Hỗ trợ cơ cấu lại nợ cho bà con hợp tác xã mùa dịch Covid-19

Trong bối cảnh đó, Nghị định 45/2021/NĐ-CP ngày 31/3/2021 của Chính phủ về thành lập, tổ chức và hoạt động Quỹ Hỗ trợ phát triển hợp tác xã được ban hành như một luồng gió mới thổi vào cộng đồng kinh tế tập thể, hợp tác xã, khắc phục những bất cập, vướng mắc trong thời gian qua, tạo điều kiện cho hợp tác xã (HTX), Liên hiệp hợp tác xã (LHHTX), tổ hợp tác (THT) và thành viên các tổ chức này có điều kiện tiếp cận nguồn vốn ưu đãi vượt qua khó khăn, thách thức, vững bước đi lên.Trước sự kiện Nghị định về hệ thống Quỹ được ban hành, những giải pháp hỗ trợ giúp các hợp tác xã vượt qua giai đoạn khó khăn, Cổng Thông tin điện tử đã có buổi phỏng vấn ông Phạm Công Bằng, Giám đốc Quỹ Hỗ trợ phát triển Hợp tác xã xung quanh vấn đề này.

Ông Phạm Công Bằng – Giám đốc Quỹ Hỗ trợ phát triển Hợp tác xãPhóng viên: Thưa ông, Nghị định 45/2021/NĐ-CP của Chính phủ đã có tác động tích cực như thế nào đến việc hỗ trợ phát triển kinh tế tập thể (KTTT), hợp tác xã (HTX)?Ông Phạm Công Bằng: Nghị định 45/2021/NĐ-CP (NĐ 45) ngày 31/3/2021 được ban hành đánh dấu bước phát triển mới đối với Quỹ Hỗ trợ phát triển HTX Việt Nam cũng như hệ thống Quỹ Hỗ trợ phát triển Hợp tác xã.
Ngay từ khi dự thảo Nghị định, Thường trực Liên minh Hợp tác xã Việt Nam đã rất sát sao tích cực tham gia phối hợp chặt chẽ với cơ quan chủ trì soạn thảo là Bộ Tài chính tổ chức rất nhiều cuộc khảo sát, hội thảo, tọa đàm, tổ chức nhiều buổi làm việc với lãnh đạo Bộ và vụ chức năng, với hàng chục văn bản tham gia chính thức để xây dựng dự thảo Nghị định trình Chính phủ. Trong quá trình góp ý kiến, Liên minh Hợp tác xã Việt Nam bám sát chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, căn cứ tình hình hoạt động của Quỹ Hỗ trợ phát triển Hợp tác xã, nhu cầu thực tiễn và xu thế phát triển của KTTT, HTX nên đã được Chính phủ, Bộ Tài chính và các Bộ ngành cơ bản ủng hộ, tiếp thu.
Do đó, Nghị định 45 được ban hành đã cơ bản phù hợp với hoạt động thực tiễn của hệ thống Quỹ Hỗ trợ phát triển Hợp tác xã cũng như nhu cầu của khu vực KTTT, HTXkhắc phục những bất cập, vướng mắc của cơ chế cũ theo theo Quyết định 246/2006/QĐ-TTg và Quyết định 23/2017/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ và Quyết định 59/2007/QĐ-BTC về phê duyệt điều lệ tổ chức và hoạt động Quỹ Hỗ trợ phát triển Hợp tác xã như: 
(1) Đã thống nhất về cơ chế, tăng cường liên kết hệ thống; mô hình hoạt động đã thiết kế theo hướng gọn nhẹ, các Quỹ hoạt động độc lập, tự chủ và tự chịu trách nhiệm;
(2) quy định vốn điều lệ tối thiểu Quỹ địa phương là 20 tỷ đồng;
(3) mở rộng đối tượng cho vay đến thành viên HTX, thành viên THT;
(4) các Quỹ cho vay cả vốn ngắn, trung và dài hạn;
(5) điều kiện cho vay thông thoáng hơn;
(6) có cơ chế mở rộng huy động vốn từ thị trường;
(7) xác định cơ chế quản lý và thẩm quyền quản lý Quỹ cụ thể, trao nhiều quyền tự chủ cho các Quỹ và Liên minh Hợp tác xã các cấp trong tổ chức hoạt động, quản lý rủi ro, phù hợp với đặc thù khu vực kinh tế tập thể. …
Cụ thể, đối với Quỹ Hỗ trợ phát triển Hợp tác xã Việt Nam, điểm mới nổi bật thứ nhất là theo cơ chế cũ, Quỹ Hỗ trợ phát triển Hợp tác xã chỉ cho vay đối với HTX, LHHTX và chỉ cho vay đầu tư hình thành nên tài sản cố định, trong khi nhu cầu vay vốn của những thành viên HTX, thành viên THT là rất cần thiết. Bên cạnh đó, nhu cầu vay vốn ngắn hạn để phục vụ tính chất mùa vụ của sản xuất nông nghiệp đối với các HTX nông nghiệp rất phổ biến và hết sức cấp bách, nhưng Quỹ cũng không được cho vay. Như vậy cơ chế cũ nó bó hẹp cả về cả phạm vi đối tượng và phương thức cho vay.
Những hạn chế đó bây giờ đã được khắc phục trong quy định của Nghị định 45 của Chính phủ, theo đó ngoài HTX, LHHTX, Quỹ HTX đã được cho vay đến thành viên của HTX, thành viên THT và được cho vay cả ngắn trung và dài hạn cho tất cả đối tượng vay để đáp ứng nhu cầu đa dạng của khu vực KTTT, HTX để phát triển sản xuất kinh doanh, tăng cường liên kết theo chuỗi giá trị sản phẩm bền vững.
Đấy là một điểm mới tháo gỡ rất lớn vướng mắc về đối tượng, phương thức, loại hình cho vay của Quỹ HTX.Điểm mới nổi bật thứ 2 của Nghị định 45 là cơ chế hoạt động của Quỹ HTX trước đây không được huy động vốn ngoài thị trường, thì theo quy định của Nghị định 45, Quỹ HTX được mở rộng hơn các hình thức huy động, đặc biệt là được phép huy động nguồn lực từ thị trường, nhận tiền gửi của các Quỹ địa phương, các nguồn huy động hợp pháp khác để bổ xung nguồn vốn hoạt động cho vay đối với khu vực KTTT, HTX.
Phóng viên: Như vậy, các thành viên của HTX, THT đã được chủ động vay vốn sản xuất, kinh doanh là một sự tạo điều kiện tích cực của Quỹ. Thưa ông, thành viên của HTX, tổ hợp tác được vay ở mức bao nhiêu?Ông Phạm Công Bằng: Về giới hạn cho vay, Nghị định 45 quy định giới hạn cho vay đối với một khách hàng không quá 15% vốn điều lệ thực có và cho vay một khách hàng và người liên quan không quá 25% vốn điều lệ. Điều này có nghĩa là Nghị định 45 cũng mở rộng giới hạn cho vay mà vẫn đảm bảo an toàn nguồn vốn quỹ khi không tập trung quá nhiều vốn vay vào một đối tượng vay và người có liên quan.So với quy định trước đây của Quỹ HTX, với một dự án vay vốn  không quá 10% vốn điều lệ thì quy định mới của Nghị định 45 đã mở rộng hơn và vì vậy Quỹ HTX có điều kiện cho vay các dự án lớn của các HTX có quy mô lớn, hoạt động trên địa bàn rộng, tác động dự án có ảnh hưởng lớn đến phát triển KTTT, HTX của cả vùng, miền hoặc phạm vi toàn quốc.
Ví dụ, một HTX nào đó có dự án hiệu quả, khả thi, cung ứng đầu ra cho HTX trên địa bàn liên tỉnh, hoặc cả nước mà họ có nhu cầu chính đáng, đủ điều kiện tiếp cận vốn của Quỹ HTX thì có thể xem xét cho vay với quy mô lớn hơn, mang lại hiệu quả thiết thực, sâu rộng hơn cho Khu vực KTTT, HTX.Phóng viên: Để triển khai Nghị định 45 trong thời gian tới Quỹ Hỗ trợ phát triển Hợp tác xã Việt Nam có kế hoạch gì để hỗ trợ Liên minh Hợp tác xã các tỉnh, thành phố trong việc thành lập Quỹ hoặc chuyển đổi mô hình Quỹ để hoạt động hỗ trợ vốn cho khu vực KTTT, HTX được tốt hơn, thưa Ông?
Ông Phạm Công Bằng: Theo chỉ đạo của Thường trực Liên minh Hợp tác xã Việt Nam, Quỹ HTX Việt Nam (Quỹ TW) ngoài việc hoàn thiện cơ chế theo Nghị định 45, ban hành và tham mưu cấp có thẩm quyền ban hành những văn bản theo quy định để chuyển đổi mô hình hoạt động thì Quỹ TW còn có một sứ mệnh là hỗ trợ cho Liên minh hợp tác xã các tỉnh, thành phố trong việc thành lập mới các Quỹ Hỗ trợ phát triển Hợp tác xã (đối với các tỉnh chưa có Quỹ) và chuyển đổi mô hình cho các Quỹ địa phương đã thành lập để hoạt động theo quy định của Nghị định 45.
Ban chấp hành Liên minh Hợp tác xã Việt Nam ban hành kế hoạch 351/KH-LMHTXVN ngay 8/6/2021 về triển khai thực hiện Nghị định số 45/2021/NĐ-CP của Chính phủ về việc thành lập, tổ chức và hoạt động của Quỹ Hỗ trợ phát triển hợp tác xã. Kế hoạch này đã được gửi đến Liên minh Hợp tác xã các tỉnh, thành phố. Theo đó, phân loại để hướng dẫn đối với các tỉnh chưa thành lập Quỹ cũng như các tỉnh đã có Quỹ thì các bước triển khai như thế nào, thời gian cụ thể ra sao, nhiệm vụ của Liên minh các cấp và các Quỹ được quy định rất cụ thể. Tại Kế hoạch 351, Ban chấp hành Liên minh Hợp tác xã Việt Nam đã thành lập Tổ hỗ trợ, tư vấn hỗ trợ triển khai Nghị định 45. Tổ này sẽ kết hợp với Quỹ Hỗ trợ phát triển Hợp tác xã để hỗ trợ các tỉnh, thành phố trong triển khai Nghị định 45. Theo đó, Quỹ HTX Việt Nam sẽ dự thảo một hệ thống các văn bản để hướng dẫn Liên minh HTX và Quỹ các tỉnh, thành phố thực hiện Nghị định 45. Sau đó, các Văn bản dự thảo này sẽ thông qua Tổ hỗ trợ, tư vấn triển khai Nghị định 45 để hoàn thiện trình Thường trực Liên minh Hợp tác xã thông qua để gửi cho Liên minh Hợp tác xã các tỉnh, thành phố, hỗ trợ các đơn vị trong quá trình triển khai Nghị định 45, đảm bảo tiến độ và chất lượng tuân thủ đúng quy định của Nghị định 45, Ban chấp hành Liên minh Hợp tác xã Việt Nam; phù hợp với tình hình thực tiễn của từng địa phương.Phóng viên: Trong thời gian qua đại dịch Covid-19 đã tác động tiêu cực đến kinh doanh sản xuất ở địa phương, đặc biệt là khu vực KTTT, HTX.
Thời điểm khó khăn chung này, Quỹ HTX đã có phương án như thế nào để hỗ trợ bà con vượt qua khó khăn?
Ông Phạm Công Bằng: Đại dịch Covid-19 đã ảnh hưởng rất nặng nề đến các doanh nghiệp cũng như các HTX, tổ hợp tác. Đặc biệt, mức độ ảnh hưởng của dịch Covid-19 tác động nặng nề hơn với các HTX, tổ hợp tác bởi đây là nơi nguồn lực yếu, dễ bị tổn thương, khả năng chống chịu kém. Thường trực Liên minh Hợp tác xã Việt Nam đã có văn bản chỉ đạo các đơn vị trực thuộc, trong đó có Quỹ HTX Việt Nam tạo mọi điều kiện cho các HTX vượt qua thời kì khó khăn do ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19.
Thực hiện chỉ đạo của Thường trực Liên minh Hợp tác xã Việt Nam, Quỹ  HTX Việt Nam đã tiến hành rà soát tất cả các HTX đang có dư nợ tại Quỹ HTX, rà soát phân loại đánh giá và báo cáo Thường trực liên minh Hợp tác xã Việt Nam về tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của HTX vay vốn do ảnh hưởng dịch Covid-19.Trên cơ sở đó, Quỹ HTX đã gửi công văn đên tất cả các HTX còn dư nợ tại quỹ đề nghị báo cáo tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh, tình hình thực hiện các dự án đang vay vốn của Quỹ HTX và khả năng trả nợ, đề xuất cơ cấu lại nợ nếu thấy cần thiết. Ngay sau đó,  chúng tôi đã nhận được 40 đơn đề nghị cơ cấu lại nợ của 40 HTX với nhu cầu chủ yếu là xin giãn nợ tức là điều chỉnh kỳ hạn trả nợ gốc và chưa có HTX nào có đề nghị về việc xóa nợ hoặc khoanh nợ.
Trên cơ sở báo cáo của các HTX đang vay vốn Quỹ HTX, chúng tôi đã tham mưu cho Hội đồng quản lý Quỹ ban hành Nghị quyết về việc hỗ trợ các HTX đang vay vốn quỹ bị ảnh hưởng bởi dịch bệnh Covid-19.  Sau khi xem xét từng trường hợp cụ thể, Quỹ HTX đã cơ cấu lại nợ cho 38 HTX với số tiền nợ cơ cấu là 31 tỷ đồng của đợt 1 năm 2020. Đến đợt dịch thứ 2 năm 2021, thực hiện chỉ đạo của Thường trực liên minh Hợp tác xã Việt Nam, Quỹ HTX tiếp tục rà soát và nhận được những đơn đề nghị cơ cấu lại nợ của những HTX tiếp tục bị khó khăn bởi đại dịch Covid-19  lần thứ 2, chúng tôi đã tiếp tục cơ cấu lại nợ cho 7 HTX với số tiền là 25 tỷ đồng.
Bên cạnh đó, Quỹ HTX cũng đẩy mạnh công tác cho vay mới rất nhiều dự án để các HTX, liên hiệp HTX có nguồn lực đầu tư đổi mới hoạt động, đổi mới sản phẩm, tăng cường liên kết, thích nghi với giai đoạn khó khăn chung của nền kinh tế. Đến hôm nay, các HTX đã được cơ cấu lại thời hạn trả nợ thì đã phục hồi lại sản xuất kinh doanh và cũng đã dần ổn định để tiếp tục phát triển. Sau khi hết thời kì cơ cấu nợ thì các HTX này đã trả nợ đầy đủ cả nợ gốc và nợ lãi cho Quỹ HTX, không có HTX nào có hiện tượng chậm trả. Bên cạnh đó, các HTX không có đơn điều chỉnh cơ cấu lại nợ của những đợt dịch vừa rồi thì các HTX đó cũng chấp hành rất tốt nghĩa vụ trả nợ cho quỹ trong 2 năm vừa qua.Có thể nói, được sự quan tâm chỉ đạo sát sao của Thường trực Liên minh Hợp tác xã Việt Nam, công tác hỗ trợ của Qũy HTX đã rất kịp thời, đúng đối tượng, đã phát huy tác dụng rất tốt đối với các HTX bị ảnh hưởng đại dịch, qua đó giúp các HTX đã tạm thời vượt qua giai đoạn khó khăn nhất, ổn định sản xuất kinh doanh và tiếp tục phát triển.Phóng viên: Xin cảm ơn ÔngVân Khánh – Quang Trung (Thực hiện)

Nguồn: Hỗ trợ cơ cấu lại nợ cho bà con hợp tác xã mùa dịch Covid-19 (vca.org.vn)

Phát triển nguồn nhân lực cho nông nghiệp công nghệ cao

(HNM) – Đầu tư phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao để tăng năng suất, chất lượng, an toàn vệ sinh thực phẩm, nâng cao sức cạnh tranh của hàng hóa nông sản, thực phẩm và sử dụng có hiệu quả trên diện tích đất nông nghiệp là hướng đi tất yếu, nhằm phát triển bền vững của ngành Nông nghiệp. Để làm được điều này, phát triển nguồn nhân lực đóng một vai trò quan trọng.

Chăm sóc hoa lan trong nhà lưới tại Hợp tác xã Đan Hoài (huyện Đan Phượng). Ảnh: Đăng Anh

Hướng đi tất yếu

Việt Nam là một quốc gia đang phát triển, nông nghiệp giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế. Tuy nhiên, sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam đang phải đối mặt với nhiều thách thức, như: Nâng cao năng suất; biến đổi khí hậu; sâu bệnh; hệ thống tưới tiêu, giám sát sức khỏe đất và cây trồng… Việc ứng dụng những thành tựu khoa học và công nghệ hiện đại, nhằm tạo ra sản phẩm có chất lượng, tính năng vượt trội, thân thiện với môi trường, có vai trò quan trọng đối với việc hiện đại hóa ngành sản xuất, dịch vụ hiện có… được coi là một trong những giải pháp then chốt, trọng tâm của ngành Nông nghiệp.

Các công nghệ được ứng dụng trong sản xuất nông nghiệp gồm: Cơ giới hóa, tự động hóa, công nghệ sinh học, tin học hóa… giúp sản xuất nông nghiệp tiết kiệm chi phí, tăng năng suất, hạ giá thành và nâng cao chất lượng nông sản, bảo vệ môi trường. Hiện, nhiều địa phương, doanh nghiệp lớn đã chọn nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp sạch làm hướng đi chính để đầu tư, với các công nghệ: Sinh học, nhà kính, tưới nhỏ giọt, cảm biến, tự động hóa…

Với thế mạnh về khoa học – công nghệ, nguồn lực, hệ thống cơ chế chính sách, những năm gần đây, Hà Nội đã phát triển mạnh mẽ các mô hình sản xuất nông nghiệp công nghệ cao. Nhiều mô hình ở lĩnh vực thủy sản, chăn nuôi, trồng trọt đã mang lại hiệu quả kinh tế – xã hội rất đáng ghi nhận, như: Mô hình sản xuất nấm kim châm công nghệ Nhật Bản của Công ty TNHH Xuất nhập khẩu Kinoko Thanh Cao (xã Đốc Tín, huyện Mỹ Đức), sản xuất rau thủy canh của Hợp tác xã Dịch vụ nông nghiệp tổng hợp Đa Tốn (huyện Gia Lâm)… Điều đó cho thấy, nông dân và doanh nghiệp Thủ đô đã tận dụng, phát huy tốt lợi thế, tạo ra nông sản chất lượng, góp phần mang đến hiệu quả cao cho sản xuất nông nghiệp.

Mặc dù đạt được những kết quả tích cực, song sản xuất nông nghiệp công nghệ cao vẫn chưa tương xứng với tiềm năng, khi sản xuất không đồng bộ, giá trị sản xuất nông nghiệp chưa cao, sự gắn kết giữa khoa học – công nghệ và hoạt động sản xuất, kinh doanh còn vướng mắc… Bên cạnh đó, các mô hình ứng dụng công nghệ cao trong nông nghiệp còn nhỏ lẻ, phân bố không đều. Công tác triển khai xây dựng khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao thường kéo dài…

Mặt khác, việc phát triển nông nghiệp công nghệ cao đòi hỏi một nguồn nhân lực lớn có trình độ chuyên môn tốt. Tuy nhiên, tình trạng “khát” nhân sự, chảy máu chất xám, quy mô và chất lượng đào tạo… chính là những vấn đề nan giải, cần tháo gỡ.

Theo Giám đốc Trung tâm Khuyến nông Hà Nội Vũ Thị Hương, phát triển sản xuất trên nền tảng ứng dụng công nghệ cao đã và đang tạo động lực mới cho ngành Nông nghiệp Thủ đô. Song, ngoài khó khăn chung do thiên tai, dịch bệnh, thì bản thân việc ứng dụng công nghệ cao cũng đang có những thách thức nội tại. Triển khai mô hình nông nghiệp công nghệ cao đồng nghĩa với việc tổ chức sản xuất trên quy mô tương đối lớn và phải đầu tư tương xứng về mặt hạ tầng, công nghệ…

Trong khi đó, dòng vốn đầu tư vào nông nghiệp còn thấp; thành phố thiếu quỹ đất quy mô lớn để đầu tư ứng dụng khoa học – công nghệ theo vùng sản xuất tập trung. Mặt khác, thị trường tiêu thụ còn hạn hẹp, không ổn định…, chưa kể đến những bất cập trong nghiên cứu, chuyển giao công nghệ và đặc biệt là nguồn nhân lực còn hạn chế.

Chú trọng yếu tố con người

Trong bối cảnh phát triển nông nghiệp công nghệ cao chạy đua với cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ 4, theo GS.TS Phạm Văn Cường, Phó Giám đốc Học viện Nông nghiệp Việt Nam, một trong những yêu cầu cấp bách là đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao. 

PGS.TS Đào Thế Anh, Phó Giám đốc Viện Khoa học nông nghiệp Việt Nam cho rằng, chất lượng nguồn nhân lực phục vụ công tác nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ trong lĩnh vực nông nghiệp cần được nâng cao hơn nữa. Hiện, có khoảng 8.000 người làm công tác nghiên cứu khoa học tại các viện, trường trong cả nước, nhưng vẫn thiếu cán bộ lãnh đạo giỏi, cán bộ nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu chuyên sâu.

Không những thế, lực lượng nghiên cứu viên cao cấp đang bị già hóa, thế hệ kế cận chưa kịp phát triển, số người bỏ việc ra làm doanh nghiệp tăng do nhận được chế độ đãi ngộ tốt hơn. Bên cạnh đó, đa phần nguồn nhân lực cho chuyển giao công nghệ nông nghiệp không được đào tạo bài bản, không được cập nhật kiến thức mới thường xuyên. Cán bộ khuyến nông cấp cơ sở (cấp xã) và bán chuyên trách (cấp thôn, bản) có chế độ đãi ngộ thấp, chưa yên tâm công tác.

Theo GS.TS Phạm Văn Cường, trong nông nghiệp, việc đào tạo nhân lực công nghệ cao phải gắn với nhiệm vụ ứng dụng phát triển công nghệ cao, bảo đảm về số lượng, chất lượng, cơ cấu nhân lực, sử dụng hiệu quả và đãi ngộ thỏa đáng.

“Thời gian tới, cần tập trung giải quyết một số vấn đề như: Trong nghiên cứu cũng như đào tạo cần phối hợp chặt chẽ giữa các lĩnh vực công nghệ cao chủ chốt; hỗ trợ hình thành và phát triển các vườn ươm khởi nghiệp đổi mới sáng tạo trong các nhà trường; xây dựng cơ chế đặt hàng đào tạo lại nhân lực công nghệ nông nghiệp từ nhiều nguồn kinh phí khác nhau; tăng cường liên kết trong đào tạo đổi mới sáng tạo nông nghiệp…”, GS.TS Phạm Văn Cường bày tỏ quan điểm.

GS.TS Phạm Văn Cường

Nguồn : http://www.hanoimoi.com.vn/tin-tuc/Kinh-te/1002967/phat-trien-nguon-nhan-luc-cho-nong-nghiep-cong-nghe-cao

Cần cú hích chính sách cho khu vực KTTT, HTX

Từ thực tiễn cho thấy, việc bổ sung, sửa đổi những cơ chế chính sách để khu vực KTTT, HTX phát triển là rất cần thiết, trong đó đặc biệt là sự hỗ trợ của Nhà nước để tăng cường nguồn lực cho HTX. Làm sao để những hỗ trợ của Nhà nước với khu vực này chỉ là ban đầu, sau đó khu vực KTTT, HTX sẽ tự “lớn lên”, mang lại lợi ích cho hàng triệu thành viên.

Tại buổi làm việc với lãnh đạo Liên minh HTX Việt Nam vào chiều ngày 14/6, Bộ trưởng Bộ KH&ĐT Nguyễn Chí Dũng, chia sẻ ông muốn lắng nghe những ý kiến cụ thể, chạm tới vấn đề mà hệ thống Liên minh HTX đang gặp phải. Làm sao để đời sống của thành viên HTX được nâng lên. Đặc biệt, đặt trong tình hình dịch bệnh xuất hiện đã ảnh hưởng không nhỏ tới khu vực KTTT, HTX nhưng nhiều yếu tố cơ hội khác cũng mở ra. 

Nhiều hỗ trợ chưa tới với HTX

Chia sẻ với lãnh đạo Bộ KH&ĐT, ông Trần An Định, Chủ tịch Liên minh HTX Hòa Bình bày tỏ nỗi niềm về câu chuyện “giải cứu” nông sản, bình thường 1kg quả su su được bán ngoài chợ với giá 20.000 đồng, khi được giải cứu, dù các ban ngành vào cuộc nhưng cũng chỉ bán được với giá 5.000 đồng/kg. Nông dân vẫn chịu thiệt.

dsc05268-ok_1623678842-1623679064.jpg
Các đại biểu dự buổi làm việc của Bộ trưởng Bộ KH&ĐT Nguyễn Chí Dũng với Liên minh HTX Việt Nam.

Theo đó, ông Định cho rằng hỗ trợ tiêu thụ nông sản thì phải đem hàng ra bên ngoài mới giải quyết được vấn đề. Tuy nhiên, để đem hàng hóa đi tiêu thụ ở địa phương khác, chỉ HTX, hộ nông dân sẽ không làm được mà cần doanh nghiệp vào cuộc.

Chủ tịch Liên minh HTX tỉnh Hòa Bình cũng lo ngại, không chỉ vải thiều mà vài tháng tới cam, bưởi có thể sẽ phải “giải cứu” vì sản lượng rất lớn, trong khi đầu ra không ổn định.

Rõ ràng vấn đề đầu ra rất cấp bách nhưng việc thu hút doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp vẫn đang vướng điểm nghẽn. Cụ thể, ông Định cho biết Nghị định 98/2018/NĐ-CP về chính sách khuyến khích phát triển hợp tác, liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp đã có nhưng đến giờ số chuỗi liên kết đã được xây dựng thì chưa nhiều. Ở Hòa Bình, nhiều dự án mới thực hiện được 1 năm đã phải dừng vì không có nguồn lực hỗ trợ.

Trong khi đó, bà Phan Thị Định, Chủ tịch Liên minh HTX tỉnh Vĩnh Phúc, đề nghị trong thời gian tới Chính phủ cần phải đẩy mạnh tuyên truyền, vận động, mở lớp tập huấn cho đội ngũ cán bộ, công chức hiểu rõ chức năng thế nào KTTT, HTX. Khi hiểu rõ thì sự quan tâm của các ngành, các cấp tới khu vực KTTT, HTX mới sâu sát hơn.

Đi vào kiến nghị cụ thể, bà Nguyễn Thị Thu Hương, Chủ tịch Liên minh HTX Hải Dương, cho biết, các HTX nông nghiệp trên địa bàn tỉnh cần được hỗ trợ chuyển đổi số, đưa sản phẩm lên sàn thương mại điện tử. Mặt khác, HTX cần được hỗ trợ xây dựng cơ sở sơ chế, bảo quản sau thu hoạch, thúc đẩy liên kết với DN trong tiêu thụ sản phẩm.

Nhìn nhận Việt Nam với dân số gần 100 triệu người, gần 25 triệu hộ cá thể trên toàn quốc, trong đó thành thị 8 triệu hộ, nông thôn gần 17 triệu hộ, Chủ tịch Liên minh HTX Việt Nam Nguyễn Ngọc Bảo cho rằng, đang có nhu cầu rất lớn trong liên kết và hợp tác theo mô hình THT, HTX để sản xuất và giải quyết nhu cầu của đời sống. 

“KTTT, HTX dần trở thành động lực phát triển kinh tế xã hội bền vững, xu hướng phát triển các HTX quy mô lớn, liên hiệp HTX; liên kết chuỗi giá trị sẽ diễn ra mạnh mẽ. Từ thực tiễn ở nước ta và kinh nghiệm phát triển HTX ở các nước phát triển và đang phát triển trên thế giới cho thấy, sự hỗ trợ của Nhà nước để tăng cường nguồn lực cho HTX phát triển theo quy hoạch là rất cần thiết”, ông Bảo đánh giá.

Theo đó, Liên minh HTX Việt Nam đề xuất Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ KH&ĐT và các Bộ, ngành liên quan sửa đổi, bổ sung quy định pháp luật, tạo điều kiện cho HTX tiếp cận được nguồn lực để phát triển, đồng thời cơ quan quản lý Nhà nước tăng cường hoạt động quản lý HTX. Khi soạn thảo, ban hành các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến phát triển kinh tế – xã hội, thì quy định HTX, liên hiệp HTX, cá nhân thành viên của tổ chức này thuộc phạm vi, đối tượng điều chỉnh.

“Đề nghị Bộ KH&ĐT tham mưu Chính phủ ban hành Nghị định riêng về phát triển KTTT, HTX cho các ngành nghề nông nghiệp, phi nông nghiệp cho phù hợp”, Chủ tịch Nguyễn Ngọc Bảo đề nghị.

Đồng thời, Liên minh HTX Việt Nam cũng đề nghị Chính phủ, Bộ KH&ĐT bổ sung vốn điều lệ và tạo điều kiện hoạt động cho Quỹ hỗ trợ phát triển HTX Trung ương, kiến nghị Chính phủ có chính sách ưu đãi đối với các Trung tâm tư vấn, hỗ trợ, cung cấp dịch vụ, hình thành và phát triển HTX…

Thiết kế chương trình ODA riêng cho khu vực KTTT, HTX

Nhìn nhận quá trình phát triển trong thời gian qua, Phó Chủ tịch Liên minh HTX Việt Nam Nguyễn Văn Thịnh, đánh giá có nhiều dấu ấn về chính sách trong phát triển KTTT, HTX. Trong đó, sự phối hợp của Bộ KH&ĐT và Liên minh HTX Việt Nam ở cấp lãnh đạo rất hiệu quả. Song đâu đó ở các Cục, Vụ, Viện… còn hạn chế chưa tương xứng với quá trình phối hợp. Vì vậy, ở khâu hoàn thiện, ban hành chính sách còn bỏ lọt, thiếu nội dung quan trọng.

Đặc biệt, Phó Chủ tịch Nguyễn Văn Thịnh cho rằng cần khắc phục sự “lãng quên” khu vực này khi xây dựng các cơ chế chính sách ở các Bộ, ngành địa phương. Đáng chú ý, Bộ KH&ĐT cần nghiên cứu sửa Luật HTX 2012, đưa vào kế hoạch xây dựng lập pháp của năm 2022. Nếu không sửa sớm thì sẽ cản trở sự phát triển KTTT, HTX trong thời gian tới.

Liên quan tới đầu tư công, Phó Chủ tịch Liên minh HTX Việt Nam Nguyễn Văn Thịnh cho rằng cần hỗ trợ phát triển hạ tầng KTTT, HTX, vì đây đang là vùng trũng nhất. Trong đó, cần tập trung đầu tư hạ tầng về giao thông, thuỷ lợi, nhà xưởng, hạ tầng về công nghệ thông tin liên quan tới chuyển đổi số 4.0 để khu vực KTTT, HTX không tụt hậu so với khu vực kinh tế khác.

Trước kiến nghị của Hệ thống Liên minh HTX về hoàn thiện thể chế, Bộ trưởng Bộ KH&ĐT Nguyễn Chí Dũng cho rằng rất quan trọng và cần nghiên cứu kịp thời, đánh giá, phân tích để không phải chỉ có thể chế liên quan trực tiếp tới KTTT, HTX mà còn các chính sách của các ngành, lĩnh vực khác cũng phải hiện diện ở khu vực này.

Đáng chú ý, Bộ trưởng Nguyễn Chí Dũng cho biết, có thể thiết kế chương trình ODA riêng cho khu vực KTTT, HTX để giải quyết các vấn đề ở Trung ương và địa phương, tất nhiên chọn vấn đề, nội dung cho cụ thể như hỗ trợ thu hút được DN, liên kết tạo được chuỗi, xây dựng cơ sở hạ tầng về chế biến, bảo quản; đào tạo nhân lực, hạ tầng; xây dựng cơ sở về dữ liệu HTX, sản phẩm HTX.

Bộ trưởng Bộ KH&ĐT cũng cho biết, về 3 Trung tâm tư vấn, hỗ trợ, cung cấp dịch vụ, hình thành và phát triển HTX thì phải xây dựng đề án khả thi về chọn địa điểm, nhân rộng cách làm hay, có mô hình phát triển tốt.

“Đã đến lúc cần thay đổi cách tiếp cận, nâng công nghệ cao lên một bước nữa. Liên minh HTX Việt Nam cần quán triệt tinh thần tới các HTX, thành viên HTX trong thời gian tới”, ông Dũng đánh giá.

Về định hướng phát triển trong thời gian tới, Bộ trưởng Bộ KH&ĐT cho biết, sẽ sửa đổi chính sách để thu hút DN đầu tư vào nông nghiệp, cân đối cung cầu trong sản xuất, thay vì việc loanh quanh chuyện cam, chè, lợn mán mà phải tính đến mở rộng sang những phân khúc cây trồng khác.

“Việc sửa đổi chính sách cần phải tạo hỗ trợ thiết thực cho hệ thống Liên minh HTX từ Trung ương tới địa phương để giúp người dân nhận thấy rõ lợi ích từ việc tham gia HTX, đóng góp sức lực của mình vào phát triển KTTT, HTX. Làm sao để những hỗ trợ của khu vực này chỉ là ban đầu, sau đó khu vực này sẽ tự lớn lên được”, Bộ trưởng Bộ KH&ĐT chia sẻ.

Tiếp thu ý kiến của Bộ trưởng Bộ KH&ĐT, ông Nguyễn Ngọc Bảo, Chủ tịch Liên minh HTX Việt Nam khẳng định, hệ thống Liên minh HTX Việt Nam sẽ tiếp tục nâng cao hiệu quả hoạt động, lấy hiệu quả là mục tiêu hàng đầu, chọn việc cụ thể để làm. Về gói ODA mà Bộ trưởng KH&ĐT đề cập, Liên minh HTX Việt Nam sẽ phối hợp cùng với với các đơn vị chức năng của Bộ KH&ĐT để thiết kế. 

Nhật Linh 

Gỡ ‘điểm nghẽn’, bàn cơ chế phát triển KTTT, HTX giai đoạn 2021-2025

Chiều ngày 14/6, Bộ trưởng Bộ KH&ĐT Nguyễn Chí Dũng và Đoàn công tác Bộ KH&ĐT đã có buổi làm việc với lãnh đạo Liên minh HTX Việt Nam về cơ chế, chính sách, nguồn lực hỗ trợ phát triển kinh tế tập thể (KTTT), hợp tác xã (HTX) và hoạt động của Hệ thống liên minh HTX Việt Nam giai đoạn 2021-2025.

Báo cáo về tình hình phát triển KTTT, HTX trong 5 tháng đầu năm 2021, Chủ tịch Liên minh HTX Việt Nam Nguyễn Ngọc Bảo cho biết, cả nước thành lập mới 641 HTX, 2 liên hiệp HTX, 1.300 Tổ hợp tác (THT), đạt 42,7% kế hoạch năm 2021. Đến cuối tháng 5/2021, cả nước có 25.667 HTX, tăng 1.156 HTX so với cùng kỳ năm 2020, thu hút 6,8 triệu thành viên và 2,5 triệu lao động.

DSC05220-OK-7185-1623658304.jpg
Bộ trưởng Bộ KH&ĐT Nguyễn Chí Dũng và Đoàn công tác Bộ KH&ĐT làm việc với lãnh đạo Liên minh HTX Việt Nam.

Tuy nhiên, hoạt động của khu vực KTTT, HTX nổi lên một số vấn đề: Nhiều HTX được thành lập theo tiêu chí số 13 của Chương trình Mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới hoạt động cầm chừng hoặc ngừng hoạt động; tỷ lệ HTX ứng dụng công nghệ cao gắn với chuỗi giá trị sản phẩm chủ lực quốc gia, vùng, địa phương còn ít (chiếm hơn 5%/tổng số HTX). Tỷ lệ khá lớn (hơn 70%) HTX quy mô nhỏ, công nghệ lạc hậu, năng lực tài chính và quản trị yếu, thiếu nguồn lực thực hiện, ít có khả năng tự huy động nguồn lực từ thị trường. Phần lớn HTX nông nghiệp, du lịch, tiểu thủ công nghiệp, thương mại, vận tải… bị thiệt hại bởi dịch COVID-19 dẫn đến doanh thu dịch vụ nội bộ và tiêu thụ sản phẩm giảm trên 40%.

Chủ tịch Liên minh HTX Việt Nam Nguyễn Ngọc Bảo cho biết, mục tiêu phát triển KTTT, HTX năm 2021 là thành lập mới 1.500 HTX, 15 liên hiệp HTX và 2.500 THT; xây dựng 200 mô hình HTX ứng dụng công nghệ cao, sản xuất gắn với chuỗi giá trị sản phẩm chủ lực quốc gia, vùng, địa phương; thu hút hộ cá thể, cá nhân, tổ chức khác là thành viên của HTX, THT tăng 10% so với năm 2020. Trong đó, 35% hộ cá thể ở địa bàn nông thôn là thành viên HTX, THT; đào tạo, bồi dưỡng tăng thêm so với năm 2020 ít nhất 10% số cán bộ quản lý HTX… Tuy nhiên, tình hình dịch COVID-19 diễn biến phức tạp, do vậy việc hoàn thành các chỉ tiêu này gặp nhiều khó khăn.

Việt Nam với dân số gần 100 triệu người, gần 25 triệu hộ cá thể trên toàn quốc, trong đó thành thị 8 triệu hộ, nông thôn gần 17 triệu hộ. Theo Chủ tịch Nguyễn Ngọc Bảo đánh giá, điều này cho thấy nhu cầu rất lớn trong liên kết và hợp tác theo mô hình THT, HTX để sản xuất và giải quyết nhu cầu của đời sống. Dự báo đến cuối năm 2025, cả nước sẽ có khoảng 42.000 HTX, với 13 triệu thành viên, trong đó 10 triệu thành viên là hộ cá thể ở địa bàn nông thôn (chiếm 60%),

“KTTT, HTX dần trở thành động lực phát triển kinh tế xã hội bền vững, xu hướng phát triển các HTX quy mô lớn, liên hiệp HTX; liên kết chuỗi giá trị sẽ diễn ra mạnh mẽ. Từ thực tiễn ở nước ta và kinh nghiệm phát triển HTX ở các nước phát triển và đang phát triển trên thế giới cho thấy, sự hỗ trợ của Nhà nước để tăng cường nguồn lực cho HTX phát triển theo quy hoạch là rất cần thiết”, ông Bảo đánh giá.

Mặc dù nhiều cơ chế, chính sách liên quan đến phát triển KTTT, HTX được ban hành và thực thi, thúc đẩy khu vực KTTT, HTX phát triển cả về số lượng và chất lượng. Tuy nhiên, Liên minh HTX Việt Nam cho biết, một số chính sách, pháp luật của Nhà nước còn bỏ sót hoặc không nêu cụ thể phạm vi, đối tượng điều chỉnh là HTX, cho nên các HTX không thể tiếp cận được các nguồn lực và các Bộ, ngành, UBND tỉnh không có căn cứ để triển khai, bố trí kinh phí Ngân sách Nhà nước hỗ trợ.

Cụ thể, một số chính sách hỗ trợ HTX được quy định tại Điều 6 Luật HTX năm 2012 và Nghị định số 193/2013/NĐ-CP ngày 21/11/2013 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật HTX; Chỉ thị số 12/CT-TTg ngày 22/5/2018 của Thủ tướng Chính phủ về việc tiếp tục tăng cường công tác triển khai thi hành Luật HTX năm 2012; Thông báo kết luận của Thủ tướng Chính phủ số 276/TB-VPCP ngày 3/8/2018 tại cuộc họp với Liên minh HTX về tình hình KTTT, HTX… chưa được thực hiện trên địa bàn cả nước hoặc có ít địa phương thực hiện. Chẳng hạn như chính sách thuế ưu đãi cho HTX, xử lý tài sản không chia của HTX khi giải thể, chuyển đổi sang hình thức tổ chức khác; hướng dẫn xử lý các khoản nợ các tổ chức tín dụng của HTX khi giải thể, phá sản…

Về chính sách thuế, phí đối với HTX có một số bất cập như: thuế giá trị gia tăng làm chi phí sản xuất, giảm khả năng cạnh tranh và không khuyến khích HTX hợp tác để thành lập các liên hiệp HTX có quy mô lớn; Luật thuế thu nhập DN chưa quy định tiêu chí, công thức tính thuế áp dụng cho HTX, chưa quy định ưu đãi thuế thu nhập DN đối với các HTX phi nông nghiệp, thuế thu nhập cá nhân (thuế suất 5%) đối với thành viên HTX không hợp lý, không khuyến khích người dân góp vốn thành lập HTX…

Một số chính sách hỗ trợ, ưu đãi cho các HTX trong dịch COVID-19 (Nghị quyết số 42/NQ-CP ngày 9/4/2020 của Chính phủ về các biện pháp hỗ trợ người dân gặp khó khăn do đại dịch COVID-19; Nghị định số 52/2021/NĐ-CP ngày 1/4/2021 của Chính phủ ngày 19/4/2021 về gia hạn thời gian nộp thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập DN, thuế thu nhập cá nhân và tiền thuê đất trong năm 2021…

Tuy nhiên, một số nội dung quy định thực thi chính sách không quy định rõ đối tượng thụ hưởng là HTX hoặc người lao động trong HTX. Một số văn bản thủ tục hành chính, hồ sơ phức tạp, qua nhiều cơ quan, ban ngành khiến các HTX thấy mất nhiều thời gian mà mức hỗ trợ không đáng kể, thậm chí có thể không đủ bù phần chi phí làm hồ sơ thụ hưởng. Một số quy định vay 0% trả lương cho người lao động nghỉ việc, thực tế HTX không chấm dứt hợp đồng lao động với người lao động mà chỉ cho tạm nghỉ việc hoặc giảm thời gian đi làm, sử dụng nguồn quỹ dự phòng để duy trì trả lương và hỗ trợ tài chính cho người lao động.

Từ những vướng mắc trên, Liên minh HTX Việt Nam đề xuất Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ KH&ĐT và các Bộ, ngành liên quan sửa đổi, bổ sung quy định pháp luật, tạo điều kiện cho HTX tiếp cận được nguồn lực để phát triển, đồng thời cơ quan quản lý Nhà nước tăng cường hoạt động quản lý HTX.

Liên minh HTX đề nghị Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ KH&ĐT và các Bộ, ngành Trung ương khi soạn thảo, ban hành các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến phát triển kinh tế – xã hội, thì quy định HTX, liên hiệp HTX, cá nhân thành viên của tổ chức này thuộc phạm vi, đối tượng điều chỉnh. 

“Đề nghị Bộ KH&ĐT tham mưu Chính phủ ban hành Nghị định riêng về phát triển KTTT, HTX cho các ngành nghề nông nghiệp, phi nông nghiệp cho phù hợp”, Chủ tịch Nguyễn Ngọc Bảo đề nghị. 

Bên cạnh đó, tập trung nguồn lực xây dựng mô hình HTX sản xuất gắn với chuỗi giá trị, bố trí vốn xây dựng cơ sở hạ tầng gắn với logistics hỗ trợ KTTT, HTX. Đồng thời xem xét, bố trí nguồn lực, cơ chế, chính sách tạo điều kiện cho Liên minh HTX Việt Nam thực hiện tốt các nhiệm vụ được giao.

Cùng với đó, Liên minh HTX Việt Nam đề xuất nội dung và kinh phí thực hiện Quyết định số 1804/QĐ-TTg, ngày 13/11/2020; Quyết định 167/QĐ-TTg ngày 3/2/2021 của Thủ tướng Chính phủ và các chương trình mục tiêu quốc gia hỗ trợ phát triển KTTT, HTX giai đoạn 2021-2025 giao hệ thống Liên minh HTX Việt Nam thực hiện…

Liên minh HTX Việt Nam cũng đề nghị Bộ KH&ĐT bố trí tập trung nguồn lực để hỗ trợ việc nâng cao hiệu quả tổ chức sản xuất, kinh doanh của người dân theo mô hình HTX, củng cố và nâng cao hiệu quả hoạt động của HTX ở các xã nông thôn mới; Phát triển, thành lập mới HTX vùng dân tộc thiểu số và miền núi. 

Đồng thời, Liên minh HTX Việt Nam cũng đề nghị Chính phủ, Bộ KH&ĐT bổ sung vốn điều lệ và tạo điều kiện hoạt động cho Quỹ hỗ trợ phát triển HTX Trung ương, kiến nghị Chính phủ có chính sách ưu đãi đối với các Trung tâm tư vấn, hỗ trợ, cung cấp dịch vụ, hình thành và phát triển HTX…

Cần có hỗ trợ cụ thể về chuyển đổi số với KTTT, HTX

DSC05338-JPG-7813-1623661067.jpg
Bà Lê Thị Tâm, Chủ tịch Liên minh HTX tỉnh Ninh Bình.

Bà Lê Thị Tâm, Chủ tịch Liên minh HTX tỉnh Ninh Bình, đánh giá: hiện nay, các văn bản của Chính phủ đều rất quan tâm tới khu vực KTTT, HTX. Khu vực KTTT, HTX rất phấn khởi. Song vấn đề vướng mắc nhất là khâu thực thi. 

Tuy nhiên, do ảnh hưởng của tình hình chung hiện nay, khu vực KTTT, HTX vẫn gặp nhiều khó khăn, có nhiều chỗ lúng túng, chưa xác định được đường đi, nước bước. Dịch COVID-19 khiến nhiều sản phẩm đầu ra của khu vực KTTT, HTX gặp khó, được mùa rớt giá. 

Hiện nay, trên địa bàn tỉnh Ninh Bình đang có hơn 400 HTX, vấn đề là làm sao có thể thực hiện chính sách hỗ trợ hiệu quả. 

Đặc biệt, về nỗi lo đầu ra của sản phẩm HTX, bà Tâm chia sẻ sản phẩm tươi chỉ có thời hạn nhất định, nên nếu không tiêu thụ được thì buộc phải giải cứu. Do vậy, thời gian tới các ngành, các cấp cần tập trung hỗ trợ đẩy mạnh khâu chế biến, trong đó cần quan tâm hỗ trợ cho Liên hiệp HTX, HTX mạnh có đủ điều kiện xây dựng cơ sở chế biến, tạo điều kiện chế biến sâu và tiêu thụ. 

Đồng thời, HTX cần phải đẩy mạnh ứng dụng chuyển đổi số, phần mềm để quản lý từ khâu sản xuất tới tiêu thụ. Các sản phẩm được đưa lên sàn giao dịch thương mại điện tử, từ đó, việc lưu thông hàng hóa thuận lợi. Do vậy, cần có hỗ trợ cụ thể về chuyển đổi số với KTTT, HTX giai đoạn 2021-2025.

DSC05331-OK-3469-1623661068.jpg
Bà Nguyễn Thị Thu Hương, Chủ tịch Liên minh HTX Hải Dương

Bà Nguyễn Thị Thu Hương, Chủ tịch Liên minh HTX Hải Dương cho biết ở Hải Dương, HTX hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp chiếm 63%. HTX chủ yếu sản xuất sản phẩm nông sản. Trong thời gian vừa qua, các sản phẩm như rau, quả của tỉnh đã được các ngành, địa phương quan tâm “giải cứu”. 

Trước ảnh hưởng của đợt dịch COVID-19 đang xảy ra, vải thiều Hải Dương đã được tỉnh hỗ trợ đưa lên sàn thương mại điện tử. Qua việc này thấy rằng, hiện nay với số lượng  sản phẩm chủ lực địa phương, số lượng HTX tiếp cận sàn giao dịch điện tử hạn chế. Do vậy, cần hỗ trợ HTX tiếp cận sàn thương mại điện tử. 

Đồng thời, HTX cần được hỗ trợ nhà sơ chế, nhà bảo quản sau thu hoạch. Bà Hương cũng đề nghị Chính phủ quan tâm, đẩy mạnh doanh nghiệp kết nối tiêu thụ nông sản cho HTX. Hiện nay kết nối giữa HTX với doanh nghiệp còn hạn chế, chủ yếu thương lái về thu mua nên thị trường bấp bênh, sản phẩm chưa vào kênh phân phối lớn. 

DSC05327-JPG-5518-1623661068.jpg
Ông Nguyễn Tiến Phong, Phó Chủ tịch Liên minh HTX TP.Hà Nội

Ông Nguyễn Tiến Phong, Phó Chủ tịch Liên minh HTX TP.Hà Nội kiến nghị Chính phủ, các bộ ngành địa phương cần quan tâm tới khu vực HTX hơn. Theo đó, cần có cơ sở dữ liệu về HTX. Vừa qua, chúng ta có sách trắng về HTX song mới ở cấp Trung ương, cấp địa phương còn chưa có. Nhiều địa phương nói HTX số lượng nhiều, nhưng không nắm rõ chất lượng hoạt động.

Do vậy, chúng ta cần số hóa được hoạt động HTX gắn với xây dựng cơ sở dữ liệu, số hoá sản phẩm của HTX. 

Trong thời gian tới, ông Phong kiến nghị cần đẩy mạnh công tác đào tạo cho cán bộ HTX, theo hướng cầm tay chỉ việc, hướng đến ứng dụng công nghệ số. 

DSC05390-JPG-5945-1623664480.jpg
Phó Chủ tịch Liên minh HTX Việt Nam Nguyễn Văn Thịnh.

Sớm sửa Luật HTX năm 2012

Phó Chủ tịch Liên minh HTX Việt Nam Nguyễn Văn Thịnh nhìn nhận có 4 dấu ấn về chính sách trong phát triển KTTT, HTX thời gian qua.

Thứ nhất, Quyết định 2261/QĐ-TTg năm 2014 phê duyệt Chương trình hỗ trợ phát triển hợp tác xã giai đoạn 2015-2020 đã có nhưng câu chuyện đặt ra là nguồn lực ở đâu để thực hiện. Nếu không có nguồn lực thì Quyết định chỉ nằm trên giấy. Bộ trưởng Bộ KH&ĐT và vai trò tham vấn của Cục Phát triển HTX đã ban hành Công văn số 3626/BKHĐT-HTX ngày 31/5/2018 về hướng dẫn thực hiện Quyết định số 2261-TTg. Tuy muộn nhưng đây là chìa khoá để các địa phương, Liên minh HTX các địa phương làm căn cứ thực hiện, tạo cơ chế quan trọng, tạo nguồn lực để khu vực KTTT, HTX tiếp cận chính sách Nhà nước thông qua 2 chương trình mục tiêu quốc gia lúc đó. Tiếp đó, Quyết định số 1804/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình hỗ trợ phát triển kinh tế tập thể, hợp tác xã giai đoạn 2021 – 2025 được ban hành ngày 12/11/2020 thay thế cho Quyết định 2261. Đây là một trong những cơ chế quan trọng để khu vực KTTT, HTX tiếp cận chính sách, từ đó tạo hiệu quả, nguồn lực để khu vực này phát triển rõ rệt.

Cùng với đó, một loạt cơ chế, chính sách về hỗ trợ phát triển KTTT, HTX trong nhiệm kỳ vừa qua được ban hành. Bộ trưởng Bộ KH&ĐT, Cục Phát triển HTX đã tham mưu ban hành một loạt chính sách như Quyết định 167/QĐ-TTg năm 2021 về phê duyệt Đề án lựa chọn, hoàn thiện, nhân rộng mô hình hợp tác xã kiểu mới hiệu quả tại các địa phương trên cả nước, Quyết định 340/QĐ-TTg năm 2021 phê duyệt Chiến lược phát triển kinh tế tập thể, hợp tác xã giai đoạn 2021-2030… Những cơ chế chính sách này được ban hành để giúp cho khu vực KTTT, HTX có điều kiện tháo gỡ khó khăn, tạo thuận lợi cho khu vực này phát triển.

Dấu ấn thứ hai là về đầu tư công, nhờ sự quan tâm chỉ đạo của Bộ trưởng, khu vực KTTT, HTX lần đầu tiên được Bộ tham mưu để Chính phủ trình Quốc hội ban hành Nghị quyết 973/2020/UBTVQH14 về các nguyên tắc, tiêu chí và định mức phân bổ vốn đầu tư công nguồn ngân sách nhà nước cho khu vực KTT, HTX giai đoạn 2021-2025. Nhà nước có thể thực hiện chính sách hỗ trợ cho HTX theo Luật HTX 2012. Theo đó, Phó Chủ tịch Liên minh HTX Việt Nam Nguyễn Văn Thịnh đề nghị Bộ trưởng Bộ KH&ĐT Nguyễn Chí Dũng quan tâm đến Đề án Đầu tư trung tâm hỗ trợ HTX ở 3 vùng miền Bắc, miền Trung, miền Nam của Liên minh HTX Việt Nam.

Dấu ấn thứ 3, liên quan tới Quỹ hỗ trợ phát triển HTX. Quỹ thành lập năm 2006, lúc đó vốn điều lệ có 100 tỷ đồng. Từ năm 2018, khi được Bộ trưởng Bộ KH&ĐT quan tâm, Bộ KH&ĐT đã trình Thủ tướng đề nghị nâng vốn điều lệ từ 100 tỷ lên 1.000 tỷ đồng. Ngoài vốn, Nghị định số 45/2021/NĐ-CP ngày 31/3/2021 của Chính phủ về việc thành lập, tổ chức và hoạt động của Quỹ Hỗ trợ phát triển hợp tác xã được ban hành đã giúp Quỹ hoạt động mở rộng hoạt động ở Trung ương và địa phương.

Dấu ấn thứ 4, toàn bộ khu vực KTTT, HTX, cũng như hệ thống Liên minh HTX được tiếp cận, thụ hưởng nguồn lực từ 2 chương trình mục tiêu quốc gia để bồi dưỡng, thành lập mới, xúc tiến thương mại, ứng dụng khoa học công nghệ, hỗ trợ đầu tư hạ tầng, giống, chế biến mà trước đây không có.

Nhìn lại quá trình phát triển trong thời gian qua, Phó Chủ tịch Liên minh HTX Việt Nam Nguyễn Văn Thịnh đánh giá sự phối hợp của Bộ KH&ĐT và Liên minh HTX Việt Nam ở cấp lãnh đạo rất hiệu quả. Song đâu đó ở các cục, vụ, viện còn hạn chế chưa tương xứng với quá trình phối hợp. Vì vậy, ở khâu hoàn thiện, ban hành chính sách còn bỏ lọt, xót thiếu nội dung quan trọng.

Trong Quyết định 1804 thay thế Quyết định 2261, dù đã đánh giá mặt được, chưa được rất kỹ lưỡng, tuy nhiên trong nội dung có những điểm bị thụt lùi, bỏ xót. Đơn cử như xây dựng mô hình gắn với chuỗi không có trong Quyết định mới, dẫn đến xây dựng kinh phí hàng năm không có để phát triển. 

Đặc biệt, cần khắc phục sự lãng quên của khu vực này khi xây dựng các cơ chế chính sách ở các Bộ, ngành địa phương. Việc ban hành cơ chế chính sách từ xây dựng Luật, Nghị định đến thông tư hướng dẫn thì cụm từ KTTT, HTX đâu đó còn bị lãng quên, chỉ nói tới doanh nghiệp mà quên hợp tác xã. 

Đáng chú ý, Phó Chủ tịch Liên minh HTX Việt Nam Nguyễn Văn Thịnh cũng cho rằng cần sửa Luật HTX 2012, mong Bộ trưởng KH&ĐT quan tâm sớm đưa vào kế hoạch xây dựng lập pháp của năm 2022. Nếu không sửa sớm thì sẽ cản trở sự phát triển KTTT, HTX trong thời gian tới. 

Đồng thời, Bộ trưởng Bộ KH&ĐT cần ban hành văn bản hướng dẫn thay thế để triển khai một loạt cơ chế chính sách.

Về sản xuất nông nghiệp, vấn đề không phải khâu sản xuất mà phải ở thị trường, bán hàng. Bà con HTX có thể sản xuất hữu cơ, ứng dụng KHCN nhưng bí nhất là thị trường đầu ra. Mắc ở khâu hạ tầng công nghệ thông tin.

Vì vậy, liên quan tới đầu tư công, Phó Chủ tịch Liên minh HTX Việt Nam Nguyễn Văn Thịnh cho rằng cần hỗ trợ phát triển hạ tầng KTTT, HTX, vì đây đang là vùng trũng nhất. Trong đó, cần tập trung đầu tư hạ tầng về giao thông, thuỷ lợi, nhà xưởng, hạ tầng về công nghệ thông tin liên quan tới chuyển đổi số 4.0 để khu vực kinh tế hợp tác, HTX không tụt hậu so với khu vực kinh tế khác. 

DSC05394-JPG-4721-1623664709.jpg
Ông Phùng Quốc Chí, Cục trưởng Cục Phát triển HTX (Bộ KH&ĐT).

Sẽ hỗ trợ tối đa cho khu vực KTTT, HTX

Ông Phùng Quốc Chí, Cục trưởng Cục Phát triển HTX (Bộ KH&ĐT) khẳng định trong thời gian qua, Bộ KH&ĐT luôn xác định sẽ hỗ trợ tối đa cho khu vực KTTT, HTX. 

Theo đó, liên quan tới đề xuất sửa đổi bổ sung quy định pháp luật tạo điều kiện cho khu vực KTTT, HTX phát triển, ông Chí cho rằng đây là đề nghị là chính đáng. Theo đó, đại diện Bộ KH&ĐT đề nghị Liên minh HTX Việt Nam có báo cáo cụ thể, nội dung cần sửa đổi về Luật HTX 2012 để Bộ KH&ĐT tổng hợp, bởi không ai hiểu vướng mắc HTX hơn là Liên minh HTX Việt Nam. 

Về đề nghị hướng dẫn chính sách hỗ trợ KTTT, HTX giai đoạn 2021-2025, về cơ bản chính sách được cụ thể, không cần văn bản hướng dẫn. Tuy nhiên, Bộ KH&ĐT cũng sẽ có văn bản hướng dẫn các địa phương để giúp các HTX tiếp cận tốt nguồn lực hỗ trợ.

Về công tác thống kê,  thực tế hiện nay có 3 luồng số liệu từ Liên minh HTX Việt Nam, Bộ KH&ĐT, Bộ NN&PTNT nên hay vênh con số, do vậy các đơn vị trên cần phối hợp Tổng cục Thống kê để thống nhất con số. 

Về bổ sung vốn điều lệ cho Quỹ hỗ trợ phát triển HTX. Tuy nhiên, Cục trưởng Cục Phát triển HTX cho rằng việc bổ sung vốn điều lệ cần thực hiện theo các quy định là có đề án và được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. 

Về tham gia chương trình xúc tiến thương mại, xúc tiến đầu tư, đại diện Bộ KH&ĐT cho biết hiện tại nguồn xúc tiến đầu tư do Bộ Công Thương chịu trách nhiệm, được biết Bộ Công Thương đã đề xuất 100 tỷ hỗ trợ cho khu vực HTX trong thời tới. Bộ KH&ĐT đã tổng hợp và gửi sang Bộ Tài chính để bổ sung quỹ này…

Về Nghị định về HTX nông nghiệp do Bộ NN&PTNT trình , còn đất đai liên quan tới Bộ TN&MT, tín dụng thuộc thẩm quyền của Ngân hàng Nhà nước. Tuy nhiên, Bộ KH&ĐT sẽ theo dõi để bám sát những vấn đề này. 

Đặc biệt, về thay đổi cụm từ KTTT là KTHT, Bộ KH&ĐT giao Viện Hàn Lâm Khoa học xã hội Việt Nam nghiên cứu. 

Liên quan tới Diễn đàn KTHT, HTX, đại diện Bộ KH&ĐT cho biết vừa mới nhận được công văn của Văn phòng Chính phủ cho biết Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính sẽ tham gia diễn đàn này. Năm nay tổ chức Diễn đàn theo phương thức mới, thực sự có tương tác giữa các bộ, ngành với khu vực KTTT, HTX với nhau. 

Ông Lê Mạnh Hùng, Cục trưởng Cục Phát triển DN (Bộ KH&ĐT), cho biết đang thực hiện chương trình hỗ trợ DN, HTX thực hiện chuyển đổi số theo chương trình hỗ trợ nguồn lực từ USAID (Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa kỳ), theo đó đưa đối tượng HTX, hộ kinh doanh vào chương trình hỗ trợ, hiện đã tổ chức khoá đào tạo cho DN, HTX tham gia. 

Đặc biệt, Cục Phát triển DN cũng sẽ trình Chính phủ chương trình hỗ trợ ngân sách cho DN, HTX chuyển đổi số vào tháng 9 năm nay, khi đó có điều kiện bố trí nguồn lực từ ngân sách nhà nước để triển khai. 

Tiếp tục cập nhật…

Lê Thúy 

Hướng tới đi đầu cả nước về nông nghiệp hữu cơ

Trên nền tảng nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp thông minh, Lâm Đồng kỳ vọng phát triển mạnh nông nghiệp hữu cơ để trở thành địa phương đi đầu của cả nước.

Phát triển phù hợp với điều kiện thực tế

Lâm Đồng có diện tích đất sản xuất nông nghiệp khoảng 300.000 ha với các loại cây trồng, vật nuôi đa dạng mang lại gái trị kinh tế cao. Ngành nông nghiệp của tỉnh đang phát triển theo hướng toàn diện, bền vững.

Theo Sở NN-PTNT Lâm Đồng, địa phương là tỉnh có điều kiện về khí hậu, đất đai thuận lợi cho việc phát triển đa dạng hóa các loại cây trồng, vật nuôi. Trên thực tế, tỉnh đã phát triển mạnh về cây trồng một cách rất đa dạng từ rau, hoa cho đến cây lương thực, chè, cà phê lẫn dược liệu. Về chăn nuôi, đã có bò sữa, bò thịt và phát triển đàn gà lấy trứng…

Lâm Đồng có diện tích sản xuất nông nghiệp công nghệ cao lớn, là nền tảng để phát triển nông nghiệp hữu cơ. Ảnh: Minh Hậu.
Lâm Đồng có diện tích sản xuất nông nghiệp công nghệ cao lớn, là nền tảng để phát triển nông nghiệp hữu cơ. Ảnh: Minh Hậu.

Hiện nay, Lâm Đồng là địa phương đi đầu trong sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao và phát triển nông nghiệp thông minh. Trong đó, nông nghiệp công nghệ cao đã đạt gần 62 nghìn ha, nông nghiệp áp dụng công nghệ thông minh hiện khoảng 50 ha rau thủy canh, 195 ha cây trồng ứng dụng công nghệ cao cảm biến tự động về nhiệt độ, độ ẩm, quản lý dinh dưỡng.

Đối với nông nghiệp an toàn, nông nghiệp hữu cơ, hiện Lâm Đồng có khoảng gần 78 nghìn ha sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP, GlobalGAP, 4C… Tỉnh này cũng có khoảng 14 ha sản xuất hữu cơ, 21 ha theo hình thức bán hữu cơ và 70 ha diện tích đồng cỏ chăn nuôi hữu cơ.

“Có thể thấy, việc phát triển nông nghiệp hữu cơ trên nền tảng phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao và nông nghiệp thông minh là rất khả thi”, ông Nguyễn Văn Châu, Phó Giám đốc Sở NN-PTNT Lâm Đồng đánh giá.

Theo Sở NN-PTNT tỉnh Lâm Đồng, việc phát triển nông nghiệp hữu cơ, tỉnh tổ chức khảo sát, đánh giá hiện trạng sản xuất, tiềm năng để xây dựng kế hoạch phát triển. Theo đó, các địa phương như TP Đà Lạt, huyện Đơn Dương, Lạc Dương, Đức Trọng… phù hợp phát triển rau hữu cơ.

Các địa phương như Cát Tiên, Đạ Tẻh, Đam Rông, Lâm Hà phù hợp sản xuất lúa hữu cơ, còn Bảo Lộc, Bảo Lâm, Di Linh phù hợp phát triển chè, cà phê hữu cơ. Đối với chăn nuôi bò sữa, bò thịt, gà đẻ trứng hữu cơ, tỉnh này cũng đưa ra kế hoạch phát triển tập trung tại các địa bàn Đơn Dương, Đức Trọng, Di Linh, Lâm Hà…

Cũng theo ông Nguyễn Văn Châu, về vấn đề thị trường, các sản phẩm nông nghiệp hữu cơ của Lâm Đồng đã xuất khẩu sang các nước Châu Âu, Nhật Bản, Singapore nhưng chưa nhiều. Đối với thị trường trong nước, tỷ lệ tiêu thụ sản phẩm hữu cơ vẫn còn thấp do người tiêu dùng chưa tin tưởng và khó phân biệt sản phẩm hữu cơ với phi hữu cơ.

Theo Sở NN-PTNT tỉnh Lâm Đồng, hiện nay, nông nghiệp phi hữu cơ ở địa phương vẫn đóng vai trò quan trọng trong tăng giá trị sản xuất, tăng thu nhập cho người dân. Do vậy, quan điểm của địa phương là hướng đến phát triển nông nghiệp hữu cơ phải phù hợp với điều kiện thực tế của từng vùng, dựa vào canh tác theo hướng tự nhiên, canh tác theo hệ sinh thái trên nền tảng nông nghiệp công nghệ cao và nông nghiệp thông minh.

Đồng thời, phát triển trên cơ sở 5 không gồm: Không phân bón hóa học, không phun thuốc bảo vệ thực vật hóa học, không sử dụng kháng sinh, không sử dụng giống biến đổi gen.

Phát triển nông nghiệp hữu cơ được Lâm Đồng xây dựng đề án với mục tiêu trở thành địa phương đi đầu cả nước về lĩnh vực này. Ảnh: Minh Hậu.
Phát triển nông nghiệp hữu cơ được Lâm Đồng xây dựng đề án với mục tiêu trở thành địa phương đi đầu cả nước về lĩnh vực này. Ảnh: Minh Hậu.

Phát triển nông nghiệp hữu cơ gắn với mục tiêu bảo vệ môi trường, phát triển đa dạng sinh học và góp phần phát triển du lịch canh nông, dịch vụ. Đặc biệt, tỉnh luôn khuyến khích để người dân không phát triển nông nghiệp hữu cơ theo phong trào.

Người làm phải dựa trên điều kiện về thổ nhưỡng, khí hậu, tài nguyên đất, nước, hệ sinh thái và sức khỏe con người. Ngoài ra, sản xuất phải gắn với nhu cầu của thị trường, tuân thủ chặt chẽ các quy định về tiêu chuẩn nông nghiệp hữu cơ.

Theo ông Nguyễn Văn Châu, Phó Giám đốc Sở NN-PTNT Lâm Đồng, hiện nay, người tiêu dùng nông sản đã nhận thức và ý thức được vấn đề an toàn vệ sinh thực phẩm nên thị trườn tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp hữu cơ ngày càng gia tăng.

Đây là cơ hội để tỉnh phát triển nông nghiệp hữu cơ. Hơn nữa, nông dân Lâm Đồng có trình độ canh tác tốt và tiếp thu nhanh công nghệ mới, họ có thói quen sử dụng các loại phân bón hữu cơ, thuốc bảo vệ thực vật sinh học, quan tâm đến sức khỏe người tiêu dùng nên việc đẩy mạnh nông nghiệp hữu cơ sẽ dễ dàng hơn.

Phấn đấu 90% sản phẩm hữu cơ có đầu ra ổn định

Ông Nguyễn Văn Châu, Phó Giám đốc Sở NN-PTNT Lâm Đồng cho biết, mục tiêu của tỉnh là phát triển nông nghiệp hữu cơ có giá trị gia tăng cao, bền vững và thân thiện môi trường. Khuyến khích sản xuất ra các sản phẩm đạt tiêu chuẩn, có chứng nhận phù hợp nông nghiệp hữu cơ khu vực và thế giới nhằm đưa Lâm Đồng trở thành địa phương có trình độ sản xuất nông nghiệp đứng đầu cả nước.

Tỉnh Lâm Đồng cũng tiến tới mở rộng quy mô diện tích, tăng năng suất, sản lượng, chất lượng các sản phẩm hữu cơ. Đồng thời đẩy mạnh việc phát triển vùng nguyên liệu kết hợp phát triển công nghiệp chế biến để tạo ra nhiều sản phẩm hữu cơ đặc thù nhằm hướng đến thị trường xuất khẩu.

Hiện nay, Lâm Đồng đang thực hiện đề án phát triển nông nghiệp hữu cơ giai đoạn 2020-2025 với mục tiêu phát triển diện tích trồng trọt hữu cơ đạt khoảng 1.600 ha. Trong đó, diện tích rau, củ, quả 250 ha, cây ăn quả 200 ha, lúa 150 ha, chè 200 ha, cà phê 400 ha…

Đối với chăn nuôi, tỉnh hướng đến thực hiện mục tiêu phát triển đàn bò sữa hữu cơ đạt 2.000 con, đàn bò thịt 400 con, đàn gà 20 nghìn con. Cũng ở giai đoạn này, Lâm Đồng sẽ thực hiện để đạt mục tiêu 100% diện tích sản xuất trồng trọt, bò sữa, bò thịt, gà chăn nuôi hữu cơ lấy trứng đạt chứng nhận tiêu chuẩn hữu cơ.

Lâm Đồng phấn đấu 90% sản phẩm nông nghiệp hữu cơ có đầu ra ổn định. Ảnh: Minh Hậu.
Lâm Đồng phấn đấu 90% sản phẩm nông nghiệp hữu cơ có đầu ra ổn định. Ảnh: Minh Hậu.

“Tỉnh đề ra mục tiêu 90% sản lượng sản phẩm nông nghiệp hữu cơ trong giai đoạn 2020-2025 được chứng nhận đảm bảo đầu ra, có thị trường tiêu thụ ổn định, bền vững thông qua việc ký kết hợp đồng tiêu thụ hoặc tham gia các chuỗi giá trị. Ngoài ra phấn đấu để toàn tỉnh có ít nhất 40 tổ chức, cá nhân được chứng nhận sản xuất hữu cơ”, ông Nguyễn Văn Châu, Phó giám đốc Sở NN-PTNT tỉnh Lâm Đồng cho biết.

Qua việc thực hiện đề án nông nghiệp hữu cơ giai đoạn 2020-2025, tỉnh Lâm Đồng kỳ vọng vào sự gia tăng năng suất và chất lượng sản phẩm để tăng thu nhập cho nông dân, doanh nghiệp. Giảm chi phí đầu vào như phân bón hóa học, thuốc bảo vệ thực vật hóa học… để qua đó tăng hiệu quả kinh tế cho người sản xuất.

Đồng thời, xây dựng nhãn hiệu, thương hiệu cho các sản phẩm để nâng cao giá trị nông sản, hạn chế hàng kém chất lượng. Các sản phẩm hữu cơ cũng sẽ góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh để thúc đẩy xuất khẩu. Cũng thông qua việc thực hiện đề án này, Lâm Đồng hướng đến tăng 20-30% gái trị kinh tế trên đơn vị diện tích so với trước đây.

Theo Sở NN-PTNT tỉnh Lâm Đồng, việc thúc đẩy nông nghiệp hữu cơ ở địa phương không những tăng hiệu quả kinh tế mà còn góp phần bảo vệ môi trường. Nâng cao ý thức bảo vệ môi trường, giảm nguy cơ bùng phát dịch bệnh. 

Với diện tích khoảng 62 nghìn ha, nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao có đóng góp lớn trong sự phát triển của tỉnh Lâm Đồng. Theo đánh giá của Sở NN-PTNT, nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao hiện có giá trị sản xuất bình quân 180 triệu đồng/ha/năm. Đặc biệt, các diện tích rau ứng dụng công nghệ cao đạt từ 400-500 triệu đồng/ha/năm, sản xuất hoa đạt 800 triệu đến 1,2 tỷ đồng/ha/năm.

MINH HẬU – KIM SƠ

Nguồn: https://nongsanviet.nongnghiep.vn/huong-toi-di-dau-ca-nuoc-ve-nong-nghiep-huu-co-d293593.html

LIÊN KẾT CHUYỂN ĐỔI SỐ GIÚP HTX, NÔNG DÂN TIÊU THỤ NÔNG SẢN

Việc hợp tác hỗ trợ chuyển đổi số, kết nối tiêu thụ nông sản cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, HTX, hộ sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp tại Việt Nam là hết sức cần thiết, nhất là trong bối cảnh dịch Covid-19 đang diễn biến phức tạp hiện nay.

Chuyển đổi số là xu thế tất yếu

Theo đánh giá của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, chuyển đổi số trong sản xuất kinh doanh đã được Đảng, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ xác định là giải pháp, là xu hướng tất yếu để các đơn vị sản xuất kinh doanh nâng cao năng lực, lợi thế cạnh tranh, tồn tại và phát triển.

Chính vì vậy, tháng 1/2021, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã ban hành và triển khai Chương trình hỗ trợ doanh nghiệp chuyển đổi số giai đoạn 2021-2025. Đặc biệt, nông nghiệp là lĩnh vực ưu tiên do là ngành then chốt của nền kinh tế, có rất nhiều doanh nghiệp nhỏ và vừa, HTX, hộ kinh doanh cá thể đang sản xuất kinh doanh.

Chuyển đổi số sẽ góp phần giải bài toán lâu dài cho lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, nâng cao năng lực sản xuất, chế biến và tiêu thụ, để không còn tình trạng giải cứu trong tương lai.

Trong 5 tháng đầu năm 2021, Chương trình hỗ trợ doanh nghiệp chuyển đổi số giai đoạn 2021-2025 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã nhận được sự đồng hành của hơn 60 đối tác trong nước và quốc tế triển khai nâng cao nhận thức, tư vấn đánh giá mức độ sẵn sàng chuyển đổi số, tư vấn lộ trình chuyển đổi số, đào tạo, kết nối giải pháp cho 5.000 doanh nghiệp tiếp cận Chương trình.

Le-ky-ket-truc-tuyen-giua-AED-3480-9693-
Lễ ký kết trực tuyến về hỗ trợ chuyển đổi số giữa Liên minh HTX Việt Nam, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Kế hoạch và Đầu tư và Grab Việt Nam

Để việc chuyển đổi số đạt được nhiều kết quả, việc hợp tác giữa các bộ, ngành và doanh nghiệp là hết sức cần thiết. Với mục tiêu đặt ra là thúc đẩy hỗ trợ tiêu thụ nông sản thông qua các nền tảng số nói chung đối với các địa phương chịu ảnh hưởng bởi dịch Covid-19, địa phương nằm trong vùng giãn cách, phong tỏa xã hội, ngày 8/6, Cục Phát triển Doanh nghiệp (Bộ Kế hoạch và Đầu tư), Cục Chế biến và Phát triển thị trường nông sản (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn), Trung tâm Xúc tiến Thương mại và Đầu tư (Liên minh HTX Việt Nam) và Grab Việt Nam đã ký kết biên bản ghi nhớ về chương trình hợp tác hỗ trợ chuyển đổi số, kết nối tiêu thụ nông sản cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, HTX, hộ sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp tại Việt Nam. Đây được xem là việc làm hết sức tích cực, đáp ứng nhu cầu của doanh nghiệp, nhà nông và các HTX trong bối cảnh hiện nay.

Ông Lê Mạnh Hùng, Cục trưởng Cục Phát triển Doanh nghiệp cho biết, chương trình hợp tác giữa các bên sẽ đóng vai trò như một mô hình thử nghiệm nhằm xem xét tính hiệu quả về hỗ trợ chuyển đổi số cho các nhà sản xuất nông nghiệp từ sản xuất, chế biến và tiêu thụ, nhằm nâng cao lợi thế, tính cạnh tranh và thúc đẩy thị trường tiêu thụ trong nước và quốc tế.

“Hợp tác này cũng là một trong các sáng kiến triển khai Chương trình hỗ trợ doanh nghiệp chuyển đổi số giai đoạn 2021-2025 mà Bộ Kế hoạch và Đầu tư đang triển khai, tập trung cho các nhà sản xuất lĩnh vực nông nghiệp”, ông Hùng nói.

Khu vực HTX đang có nhu cầu lớn

Theo ông Vũ Quang Phong, Tổng Giám đốc Trung tâm Xúc tiến Thương mại và Đầu tư (Liên minh HTX Việt Nam), chương trình hợp tác này rất có ý nghĩa khi thời gian qua, các đợt bùng phát dịch bệnh Covid-19 tại các tỉnh, thành phố đã ảnh hưởng sâu sắc đến sức khoẻ, sự an toàn của người dân, đồng thời gây ra nhiều xáo trộn trong đời sống của nhân dân, tác động tới toàn bộ nền kinh tế.

Cả nước hiện có hơn 25.000 HTX, trong đó có trên 17.000 HTX nông nghiệp. Dịch bệnh đã làm đứt gãy chuỗi sản xuất, cung ứng và tiêu thụ các sản phẩm nông nghiệp. Với sứ mệnh hỗ trợ, tư vấn cho các HTX thành viên trên cả nước, Trung tâm Xúc tiến Thương mại và Đầu tư nhận thấy chuyển đổi số là xu thế tất yếu và phù hợp trong bối cảnh hiện nay. Muốn tồn tại và phát triển, khu vực kinh tế HTX không thể đứng ngoài cuộc xu hướng chuyển đổi số.

“Thời gian tới, chúng tôi sẽ chủ động triển khai một số biện pháp hỗ trợ các HTX, thúc đẩy chuyển đổi số, triển khai đề án ứng dụng công nghệ thông tin trong điều hành quản lý, bao gồm xây dựng nền tảng ứng dụng về chuyển đổi số trong hoạt động sản xuất – kinh doanh, triển khai đồng loạt cho 63 Liên minh HTX tỉnh, thành phố, lồng ghép nội dung đào tạo, nâng cao trình độ công nghệ thông tin và kỹ năng chuyển đổi số cho cán bộ HTX cả nước”, ông Phong nói.

Đồng tình với những nhận định trên, ông Nguyễn Quốc Toản, Cục trưởng Cục Chế biến và Phát triển thị trường nông sản cho biết, thời gian qua, các biện pháp hạn chế di chuyển, giãn cách xã hội đã giúp khoanh vùng, khống chế dịch bệnh hiệu quả, mặt khác cũng gây ảnh hưởng và làm gián đoạn chuỗi cung ứng hàng hóa, trong đó có nông sản. Nhiều mặt hàng nông sản, đặc sản chất lượng cao của các địa phương, vùng miền chịu ảnh hưởng của dịch bệnh gặp khó khăn trong khâu vận chuyển, khiến hiệu quả xuất khẩu và tiêu thụ nội địa giảm.

Trong khi đó, người tiêu dùng trong nước lại đối mặt với nguy cơ vừa thiếu vừa thừa nguồn cung thực phẩm, giá cả thực phẩm tăng do ảnh hưởng của dịch bệnh và gián đoạn chuỗi cung ứng. Bối cảnh đó đặt ra tính cấp thiết của việc nâng cao nhận thức và năng lực chuyển đổi số, thúc đẩy tiêu thụ nông sản trên nền tảng số cho các nhà sản xuất nông nghiệp trong nước.

Thực hiện chỉ đạo của Bộ trưởng Lê Minh Hoan và các lãnh đạo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Cục Chế biến và Phát triển thị trường nông sản đã chủ động phối hợp với Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn các địa phương, các Chi cục trực thuộc, hiệp hội ngành hàng, doanh nghiệp tổng hợp thông tin, tháo gỡ khó khăn. Một trong những giải pháp đột phá là liên kết thúc đẩy việc tiêu thụ nông sản của bà con nông dân bằng các nền tảng số, tích hợp giá trị, tạo sự thuận lợi cho người nông dân, HTX, người tiêu dùng.

“Đây là những việc làm thiết thực hưởng ứng chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ trong việc đảm bảo mục tiêu kép vừa phòng chống dịch Covid, vừa phát triển kinh tế, đồng thời tạo tiền đề để chuyển đổi số trong nông nghiệp, góp phần gia tăng giá trị của nông sản của các địa phương, góp phần thiết thực tái cơ cấu ngành nông nghiệp trong giai đoạn mới theo chỉ đạo của Đảng, Nhà nước và định hướng phát triển của ngành nông nghiệp”, ông Toản nhấn mạnh.

Phạm Duy

Thành lập Ban chỉ đạo tổng kết 20 năm đổi mới, phát triển kinh tế tập thể

Thủ tướng Phạm Minh Chính vừa quyết định thành lập Ban Chỉ đạo Trung ương tổng kết 20 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 khóa IX về tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể..

0754-HTX-jpeg-1136-1623199190.jpg
Giai đoạn 2016-2020 cả nước có 26.112 Hợp tác xã.

Theo quyết định, Phó Thủ tướng Lê Minh Khái làm Trưởng Ban Chỉ đạo.

Phó Trưởng ban gồm: Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư (thường trực), Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Phó Trưởng Ban Kinh tế Trung ương, Chủ tịch Liên minh Hợp tác xã Việt Nam.

Ủy viên Ban Chỉ đạo là các Ủy viên Ban Chỉ đạo đổi mới, phát triển kinh tế tập thể, hợp tác xã.

Giúp việc Ban Chỉ đạo có Tổ Biên tập do Trưởng Ban Chỉ đạo quyết định.

Ban Chỉ đạo có nhiệm vụ chỉ đạo Ban Chỉ đạo đổi mới, phát triển kinh tế tập thể, hợp tác xã tổ chức tổng kết, xây dựng Báo cáo tổng kết 20 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 khóa IX về tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể; dự thảo Nghị quyết mới để trình Bộ Chính trị, Ban Bí thư (vào quý I/2022).

Việc tổng kết nhằm đánh giá kết quả triển khai và tình hình phát triển kinh tế tập thể sau 20 năm thực hiện Nghị quyết số 13-NQ/TW, Hội nghị lần thứ 5, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX về tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể, gồm: Kết quả đạt được và những tồn tại, hạn chế, nguyên nhân, bài học kinh nghiệm; đề xuất định hướng, giải pháp nâng cao hiệu quả phát triển kinh tế tập thể thời gian tới phù hợp với tình hình thực tế, phục vụ việc xây dựng dự thảo Nghị quyết mới về phát triển kinh tế tập thể.

Thanh Hoa

Nguồn: https://vnbusiness.vn/hop-tac-xa/thanh-lap-ban-chi-dao-tong-ket-20-nam-doi-moi-phat-trien-kinh-te-tap-the-1078997.html

Gỡ rào cản để nâng cao hiệu quả tích tụ đất cho HTX

Đất là tư liệu sản xuất quan trọng đối với các HTX. Tuy nhiên, do quy mô diện tích manh mún, nhỏ lẻ, tình trạng bỏ hoang đất ngày càng nhiều khiến việc tích tụ ruộng đất sản xuất trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết, trong khi việc thuyết phục người dân cho HTX thuê đất vẫn còn nhiều vướng mắc. Bên cạnh đó, những chính sách về hạn điền cũng đang khiến HTX không thể tích tụ đất đai phục vụ sản xuất theo quy mô lớn.

HTX chăn nuôi gia cầm Minh Tâm (xã Tú Thịnh, huyện Sơn Dương) đang mở rộng sang trồng dưa chuột theo hướng hàng hóa để cung cấp cho các doanh nghiệp trong tỉnh Tuyên Quang và TP Hà Nội. Tuy nhiên, theo Ban giám đốc, HTX phải liên kết với người dân trồng dưa ở nhiều huyện: Sơn Dương, Yên Sơn, Na Hang và Chiêm Hóa thì mới có đủ 60ha trồng dưa chuột cung cấp cho đối tác.

Nhu cầu lớn

Giám đốc Trần Văn Phúc cho biết,  HTX Minh Tâm rất muốn có quỹ đất rộng, liền bờ, liền thửa để đưa cơ giới hóa vào sản xuất, nâng cao năng suất, chất lượng nông sản và tăng lợi nhuận cho thành viên, người lao động. Thế nhưng, khi thương lượng thuê đất với người dân rất khó vì có hộ đồng ý, có hộ không đồng ý. Những hộ đồng ý thì chưa thống nhất được giá thuê đất.

Còn tại xã Phương Tú, huyện Ứng Hòa, Hà Nội, mặc dù địa phương đã có quyết định hỗ trợ về vốn, cơ sở hạ tầng, đất đai cũng như tiền thuê đất, nhưng đến nay, quá trình tích tụ đất đai của HTX Sản xuất kinh doanh nông nghiệp Đoàn Kết vẫn gặp khó khăn. Nguyên nhân là nhiều hộ nông dân không sản xuất nông nghiệp nhưng cũng không muốn cho HTX thuê đất vì sợ mất đất sau khi cho thuê. Trong khi đó, với đất công ích của xã, HTX muốn thuê phải thông qua phương thức đấu giá nên giá cao, vượt quá khả năng của HTX.

mt-7768-1622626818.jpg
Nếu sản xuất được liền vùng, liền thửa, HTX Minh Tâm sẽ nâng cao được năng suất, chất lượng sản phẩm.

“Vì vậy, HTX mong được tạo điều kiện thuê diện tích đất lớn với giá bình ổn, thuê dài hạn và trả tiền một lần để tránh biến động về giá theo từng năm”, Giám đốc Cao Thị Thủy bày tỏ.

Có thể thấy, nhu cầu tích tụ ruộng đất để phục vụ sản xuất của các HTX là rất lớn vì đòi hỏi của thị trường buộc HTX phải phát triển theo hướng tập trung, xây dựng được chuỗi giá trị hàng hóa bền vững. Muốn vậy, HTX phải có đất để phục vụ sản xuất, xây dựng trụ sở, xưởng sơ chế, chế biến… Khi tích tụ được đất đai để phục vụ sản xuất theo quy mô lớn, HTX sẽ thu hút được doanh nghiệp liên kết, từ đó nâng cao được thu nhập cho người dân.

Hiện nay, đã có những tỉnh, thành phố thực hiện tích tụ đất đai như Hà Nam, Hà Nội… nhưng thực tế mới chỉ tập trung vào doanh nghiệp, còn đối với HTX thì vẫn còn rất gian nan. Đây cũng là thực trạng chung của hầu hết các địa phương, bởi nhiều nông dân vẫn còn tâm lý giữ đất, thậm chí lo sợ mất đất sau khi cho thuê. Đồng thời, quy định về hạn điền trong Luật Đất đai cũng hạn chế tình trạng tích tụ ruộng đất của HTX khi không được thuê quá 10 lần hạn mức, tương đương với khoảng 30ha, tùy theo từng vùng.

PGS.TS. Đào Thế Anh, Phó Giám đốc Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam (VAAS) cho biết, đối với đất công điền, một số địa phương chỉ được phép cho thuê thời gian tối đa 5 năm theo Khoản 5, Điều 126, Luật Đất đai năm 2013, nên không khuyến khích được HTX, doanh nghiệp đầu tư sản xuất mang tính chất lâu dài và bền vững.

“Thêm nữa, hạn mức nhận chuyển quyền sử dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình không quá 10 lần hạn mức giao đất nông nghiệp quy định tại Khoản 1, 2 và 3, Điều 129 là quá thấp, nên ảnh hưởng đến sự tích tụ, dồn ghép ruộng đất tổ chức sản xuất quy mô lớn”, PGS.TS. Đào Thế Anh phân tích.

Đó là những nguyên nhân dẫn tới việc, cả nước có 26.040 HTX nhưng đến nay chỉ có khoảng 20% số HTX được giao đất, cho thuê đất để phục vụ sản xuất kinh doanh.

Thay đổi căn cơ

Thực tế, để HTX tập trung được một vùng đất rộng từ 20-30 ha là rất khó khăn, vì phải làm việc, thống nhất được mọi điều kiện với khoảng 200 – 400 hộ dân.

Chính vì vậy, về cơ chế tích tụ ruộng đất, nhiều ý kiến cho rằng, một trong những mô hình hiệu quả nhất hiện nay là người dân góp vốn bằng ruộng đất vào doanh nghiệp, HTX; hoặc cho HTX, doanh nghiệp thuê đất, trở thành lao động làm việc cho HTX, doanh nghiệp và được trả lương hàng tháng.

ruong-dat-8541-1622626818.jpg
ích tụ ruộng đất hiệu quả sẽ thúc đẩy ngành nông nghiệp phát triển.

Tại thị trấn Hà Lam, huyện Thăng Bình (Quảng Nam), HTX Nông nghiệp thanh niên Thăng Bình đã được tạo điều kiện thuê thêm 7ha đất phục vụ sản xuất lúa theo mô hình cánh đồng lớn vào năm 2019. Theo Ban giám đốc HTX, việc thuê đất thuận lợi là do một phần HTX vừa trả tiền thuê đất cho người dân, vừa tạo điều kiện cho họ có thể làm việc trên chính diện tích đất của mình. Điều này vừa giải quyết được tình trạng đất bỏ hoang, vừa nâng cao thu nhập cho người dân, đồng thời giúp HTX thuận lợi hơn trong việc đầu tư cơ sở hạ tầng và liên kết với doanh nghiệp.

Ngoài cách làm trên, PGS. TS Đoàn Xuân Thủy, Học viện Chính trị Quốc gia TP.HCM cho rằng, cần phải sửa Luật Đất đai năm 2013 một cách căn cơ. Luật phải ghi nhận được quyền tài sản về mặt đất đai và quyền lĩnh canh đối với người dân, HTX. Bên cạnh đó, Luật phải đảm bảo được quyền tiên mãi, trưng thu đất đai và đặc biệt là nên bỏ cụm từ “Nhà nước thu hồi đất để phục vụ phát triển kinh tế xã hội”. Cụm từ này rất chung chung, khó phân định khiến người cho thuê đất hoang mang, từ đó khiến quá trình tích tụ ruộng đất khó khăn.

Hiện nay, việc tích tụ, tập trung đất đai bao gồm các hình thức: cá nhân, doanh nghiệp thuê đất làm nông nghiệp; người dân tự nguyện góp đất và hình thức sản xuất để tham gia các HTX. Chính vì vậy, theo PGS. TS Đoàn Xuân Thủy, khi có hành lang pháp lý rõ ràng, vấn đề chuyển nhượng, cho thuê đất đai nông nghiệp giữa cá nhân, HTX, doanh nghiệp với nhau sẽ thuận lợi hơn.

Nếu giải quyết tốt vấn đề tích tụ thông qua hình thức thuê, mượn đất nông nghiệp, ngoài lợi ích chung là hạn chế tình trạng lãng phí nguồn tài nguyên, tăng giá trị sử dụng đất, thì cả nông dân, HTX và doanh nghiệp đều được lợi.

Huyền Trang

Bộ Tài chính đề xuất chính sách hỗ trợ đối tượng bị ảnh hưởng do dịch

Trong bối cảnh dịch COVID-19 phức tạp, Bộ Tài chính đang đề xuất tiếp tục giảm 10-50% mức thu của 30 loại phí, lệ phí, từ ngày 1/7 đến hết năm nay, thay vì hạn cuối là ngày 30/6 như hiện hành.
Bo Tai chinh de xuat chinh sach ho tro doi tuong bi anh huong do dich hinh anh 1
Ảnh minh họa. (Ảnh: Thùy Dung/TTXVN)

Trước ảnh hưởng của dịch bệnh tới mọi mặt của đời sống kinh tế-xã hội, thực hiện Nghị quyết số 84/NQ-CP năm 2020 của Chính phủ về các nhiệm vụ, giải pháp tiếp tục tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh,thúc đẩy giải ngân vốn đầu tư công và bảo đảm trật tự an toàn xã hội trong bối cảnh đại dịch COVID-19, Bộ Tài chính đã chủ động nghiên cứu, báo cáo cấp có thẩm quyền và ban hành nhiều chính sách thuế, phí, lệ phí, tiền thuê đất để hỗ trợ, tháo gỡ khó khăn và thúc đẩy sản xuất kinh doanh, tái khởi động nền kinh tế…

Bộ Tài chính đã trình Chính phủ ban hành Nghị định số 44/2021/NĐ-CP ngày 31/3/2021 hướng dẫn việc cho phép được tính vào chi phí được trừ của doanh nghiệp, tổ chức các khoản chi ủng hộ, tài trợ cho các hoạt động phòng, chống dịch COVID-19 khi xác định thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp áp dụng cho năm 2020 và 2021, ước tính số tiền thuế doanh nghiệp được giảm nghĩa vụ khoảng 170 tỷ đồng/năm.

Đồng thời, Bộ trình Chính phủ ban hành Nghị định số 52/2021/NĐ-CP ngày 19/4/2021 về tiếp tục gia hạn thời hạn nộp thuế, tiền thuê đất trong năm 2021 cho các đối tượng gặp khó khăn do ảnh hưởng của dịch COVID-19, ước tính số tiền thuế, tiền thuê đất được gia hạn khoảng 115.000 tỷ đồng.

Đặc biệt, Bộ Tài chính đang đề xuất tiếp tục giảm 10-50% mức thu của 30 loại phí, lệ phí, từ ngày 1/7 đến hết năm nay, thay vì hạn cuối là ngày 30/6 như hiện hành.

Đề xuất này được Bộ Tài chính đưa ra trong bối cảnh dịch COVID-19 tiếp tục diễn biến phức tạp trên thế giới và trong nước làm gián đoạn chuỗi cung ứng toàn cầu, ảnh hưởng tới hầu hết các ngành kinh tế. Dự báo kinh tế trong năm 2021 tiếp tục chịu tác động nghiêm trọng của COVID-19.

Theo Bộ Tài chính, nhiều ngành, lĩnh vực sản xuất, kinh doanh trong nước gặp khó khăn; hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp bị đình trệ nhất là doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực du lịch, hàng không, vận tải… cần tiếp tục có chính sách hỗ trợ của Nhà nước để giúp doanh nghiệp, người dân vượt qua khó khăn do tác động của dịch bệnh, khôi phục sản xuất kinh doanh.

Cùng với việc xây dựng, triển khai các giải pháp về chính sách, Bộ Tài chính sẽ tiếp tục đẩy mạnh hoàn thiện thể chế, nâng cao hiệu lực, hiệu quả của bộ máy, cải cách thủ tục hành chính và đẩy mạnh hiện đại hoá toàn diện các lĩnh vực của ngành tài chính, đặc biệt là trong các lĩnh vực thuế, hải quan, vốn được xem là các lĩnh vực có liên quan nhiều và trực tiếp tới doanh nghiệp… góp phần kiến tạo môi trường đầu tư kinh doanh lành mạnh, tạo điều kiện để doanh nghiệp hoạt động ổn định và phát triển.

Năm 2020, Bộ Tài chính đã chủ động đề xuất và đã được Chính phủ, Quốc hội đồng ý gia hạn thời hạn nộp thuế, tiền thuê đất cho các đối tượng gặp khó khăn do ảnh hưởng của dịch COVID-19; giảm thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp của năm 2020 đối với doanh nghiệp, hợp tác xã, đơn vị sự nghiệp và tổ chức khác; tiếp tục miễn thuế sử dụng đất nông nghiệp đến hết năm 2025; tăng mức giảm trừ gia cảnh của thuế thu nhập cá nhân qua đó giảm nghĩa vụ thuế của cá nhân; giảm tiền thuê đất phải nộp của năm 2020 đối với các đối tượng bị ảnh hưởng bởi dịch COVID-19; giảm mức thuế bảo vệ môi trường đối với nhiên liệu bay đến hết ngày 31/12/2020.

Bộ Tài chính cũng đã phối hợp với các Bộ rà soát, xây dựng và ban hành theo thẩm quyền 21 Thông tư điều chỉnh mức thu phí, lệ phí đang được quy định tại 31 Thông tư thu phí, lệ phí hiện hành, qua đó giảm mức thu nhiều khoản phí, lệ phí với mức giảm cao.Tổng số tiền thuế và thu ngân sách đã gia hạn, miễn, giảm theo các chính sách đã ban hành ước thực hiện cả năm 2020 đạt khoảng 123,6 nghìn tỷ đồng; trong đó, số tiền thuế, phí, lệ phí và tiền thuê đất được gia hạn khoảng 87,2 nghìn tỷ đồng; số được miễn, giảm khoảng 36,4 nghìn tỷ đồng.

Bà Lê Thị Duyên Hải, Vụ trưởng Vụ Kê khai và kế toán thuế (Tổng cục Thuế) cho biết, chính sách gia hạn nộp thuế và tiền thuê đất trong năm 2020 đã góp phần quan trọng nhằm thực hiện có hiệu quả “mục tiêu kép” vừa phòng chống dịch bệnh, vừa phát triển kinh tế-xã hội.

Điển hình như đã góp phần phát triển kinh tế đất nước, khôi phục sản xuất-kinh doanh; thúc đẩy tăng trưởng xuất khẩu với con số dương; ổn định kinh tế vĩ mô, giá cả thị trường và góp phần thực hiện nhiệm vụ tài chính ngân sách.

Hiện nay, Chính phủ cũng đã giao cho Bộ Tài chính và Bộ đã chỉ đạo ngành thuế đánh giá tác động của các chính sách thuế đã thực hiện đối với sản xuất – kinh doanh cũng như thu ngân sách nhà nước.

Bên cạnh đó, tiếp tục theo dõi sát sao tình hình diễn biến dịch bệnh cũng như tác động của dịch COVID-19, từ đó đánh giá việc thực hiện các giải pháp đã ban hành thời gian qua trên cả nước.

Trên cơ sở đó, bà Lê Thị Duyên Hải cho biết ngành thuế sẽ đề xuất, báo cáo cấp có thẩm quyền các giải pháp về thuế, phí và lệ phí phù hợp với diễn biến thực tế thời gian tới./.

Theo TTXVN/Vietnam+

Link bài viết: https://www.vietnamplus.vn/bo-tai-chinh-de-xuat-chinh-sach-ho-tro-doi-tuong-bi-anh-huong-do-dich/717674.vnp