Author Archives: inoste

Đẩy mạnh hoạt động dịch vụ khoa học dịch vụ dựa trên nhu cầu của khu vực kinh tế tập thể

Viện Khoa học công nghệ và môi trường tổng kết công tác năm 2022, phương hướng nhiệm vụ năm 2023:

Ngày 16/1, Viện Khoa học Công nghệ và Môi trường, Liên minh Hợp tác xã Việt Nam đã tổ chức tổng kết công tác năm 2022 và triển khai nhiệm vụ năm 2023. Tới dự Hội nghị có Phó Chủ tịch Liên minh Hợp tác xã Việt Nam Lê Văn Nghị, đại diện lãnh đạo các Ban, đơn vị của Liên minh Hợp tác xã Việt Nam.

Phó Chủ tịch Liên minh Hợp tác xã Việt Nam Lê Văn Nghị phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị

Trong năm 2022, các mặt hoạt động của Viện Khoa học công nghệ và môi trường (Liên minh Hợp tác xã Việt Nam) được triển khai đều trên các nội dung về khoa học công nghệ, bảo vệ môi trường, sự nghiệp kinh tế của Liên minh Hợp tác xã Việt Nam giao, kết quả được xác nhận cụ thể trên khối lượng, chất lượng công việc của các đề tài, dự án các cấp theo đúng tiến độ. Công tác thi đua khen thưởng hàng năm được thực hiện đúng theo quy định của Nhà nước và Liên minh Hợp tác xã Việt Nam.

Toàn cảnh Hội nghị

Cụ thể, về công tác tham mưu xây dựng kế hoạch, chương trình hoạt động khoa học công nghệ và bảo vệ môi trường khu vực kinh tế tập thể (KTTT), hợp tác xã (HTX), trong năm 2022, Viện Khoa học công nghệ và môi trường đã tích cực phối hợp với Ban Kế hoạch hỗ trợ và các ban tham mưu, các đơn vị của Liên minh  Hợp tác xã Việt nam xây dựng kế hoạch phát triển khoa học công nghệ, nhiệm vụ bảo vệ môi trường cho khu vực KTTT, HTX giai đoạn 2021-2025. Đồng thời, tập trung đẩy mạnh nghiên cứu, chuyển giao khoa học công nghệ cho khu vực KTTT, HTX theo hướng phát triển xanh, tuần hoàn và ứng dụng công nghệ cao, chuyển đổi số, phát triển sản xuất kinh doanh theo chuỗi giá trị, gắn liền với công tác quản lý, bảo vệ môi trường sinh thái.

Về chức năng nhiệm vụ được giao, Viện Khoa học công nghệ và môi trường hoàn thành tốt các nhiệm vụ trọng tâm như: Hoàn thiện các đề tài, nhiệm vụ chuyển tiếp; xây dựng Đề xuất, thuyết minh nhiệm vụ cấp ngành, cấp nhà nước; Tư vấn, hỗ trợ KHCN và BVMT cho khu vực KTTT, HTX; Phối hợp với Liên minh HTX tỉnh, thành phố; Phát triển mở rộng lĩnh vực hoạt động. Cũng như hoàn thành tốt Công tác tổ chức cán bộ; Công tác đoàn thể, chính trị; Công tác công đoàn và đoàn thanh niên; Công tác thi đua khen thưởng;….

Trên cơ sở các nhiệm vụ trọng tâm của BCH Liên minh HTX Việt Nam nhiệm kỳ 2020-2025, các Chương trình, nhiệm vụ, đề án, kế hoạch của Thường trực Liên minh HTX Việt Nam, năm 2023, Viện Khoa học công nghệ và môi trường tập trung thực hiện các công tác trọng tâm như: Bám sát điều lệ của Liên minh Hợp tác xã Việt Nam và hệ thống các văn bản của chính phủ hướng dẫn thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia, các chương trình khoa học công nghệ và bảo vệ môi trường, định hướng mục tiêu phát triển kinh tế xã hội và thực trạng hoạt động của khu vực kinh tế tập thể, hợp tác xã… để thực hiện công tác tham mưu xây dựng kế hoạch, triển khai nhiệm vụ theo theo yêu cầu của Thường trực; Kiện toàn bộ máy tổ chức, thực hiện nhiệm vụ theo chức năng; Tiếp tục đẩy mạnh hoạt động dịch vụ khoa học dịch vụ dựa trên nhu cầu của khu vực kinh tế tập thể và phù hợp với năng lực của Viện; Đẩy mạnh hợp tác trong nước và quốc tế; Tăng cường công tác thông tin truyền thông về kết quả nghiên cứu khoa học công nghệ;….

Tin: Lê Huy 

Ảnh: Viện KHCN & MT

Viện Khoa học Công nghệ và Môi trường: Tổ chức tập huấn nâng cao năng lực cho HTX và thành viên vùng đồng bào DTTS và miền núi tỉnh Đắk Lắk

Sáng 17/11/2022, tại tỉnh Đắk Lắk, Viện Khoa học Công nghệ và Môi trường – Liên minh HTX Việt Nam phối hợp với Liên minh HTX tỉnh Đắk Lắk khai mạc lớp tập huấn “Nâng cao năng lực, kỹ năng vận hành thương mại điện tử cho HTX, thành viên vùng đồng bào DTTS và miền núi”.

Tham dự khai mạc lớp tập huấn, có bà Nông Thị Thu, Phó Chủ tịch Liên minh HTX tỉnh Đắk Lăk, đại diện lãnh đạo các phòng ban của Liên minh HTX tỉnh và học viên đến từ các HTX trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk.

Bà Nông Thị Thu, Phó Chủ tịch Liên minh HTX tỉnh Đắk Lăk phát biểu tại lớp tập huấn

Phát biểu khai mạc lớp tập huấn, Phó Chủ tịch Liên minh HTX tỉnh Đắk Lắk Nông Thị Thu nhấn mạnh: “Trong thời đại công nghiệp 4.0, ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, thương mại điện tử vào phát triển kinh tế xã hội nói chung và kinh tế tập thể, HTX nói riêng là một yêu cầu tất yếu. Khóa tập huấn sẽ trang bị những kiến thức cơ bản, từng bước nâng cao năng lực cho cán bộ HTX trong việc tiếp cận, ứng dụng công nghệ số, thương mại điện tử vào nâng cao chất lượng sản phẩm, tìm kiếm thị trường tiêu thụ bền vững ”.

Ông Vũ Quang Phúc, Phó Giám đốc Trung tâm KHCN và MT miền Trung
Giới thiệu phần mềm Truy xuất nguồn gốc hoptacxa.vn

 Tại lớp tập huấn, thạc sĩ Vũ Quang Phúc chia sẻ các kiến thức cơ bản về ứng dụng công nghệ số, thương mại điện tử vào phát triển kinh tế và đời sống xã hội. Giới thiệu cổng thông tin kết nối cung cầu vcamart.vn của Liên minh HTX Việt Nam; trang truy xuất nguồn gốc hoptacxa.vn; hướng dẫn học viên các kỹ năng quản trị gian hàng thương mại điện tử và xúc tiến thương mại trên nền tảng số; kỹ năng tiếp cận ứng dụng CNTT, chuyển đổi số, sử dụng công cụ tìm kiếm trên internet; kỹ năng xây dựng và phát triển thương hiệu sản phẩm; kỹ năng marketing, chăm sóc khách hàng, truyền thông và SEO phục vụ cho hoạt động quảng bá sản phẩm, tiếp cận và mở rộng thị trường tiêu thụ….

Quang cảnh lớp tập huấn

 Lớp tập huấn nâng cao năng lực vận hành thương mại điện tử vào phát triển kinh tế hợp tác xã là một hoạt động trong chuỗi các hoạt động thuộc Dự án “Hỗ trợ và duy trì chợ sản phẩm trực tuyến vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi” của Liên minh HTX Việt Nam giao Viện Khoa học Công nghệ và Môi trường triển khai năm 2022.

Trần Hiền
Viện Khoa học Công nghệ và Môi trường

Kinh tế tập thể với mô hình hợp tác xã khẳng định vị trí, vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân

Sau 20 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 khoá IX về tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể, khu vực kinh tế tập thể nước ta đã có những chuyển biến tích cực. Nhận thức về phát triển kinh tế tập thể, mà trọng tâm là hợp tác xã trong hệ thống chính trị và các tầng lớp nhân dân được nâng lên. Chính sách, pháp luật về kinh tế tập thể được quan tâm xây dựng, hoàn thiện phù hợp với từng giai đoạn phát triển. Hợp tác xã đã cơ bản hoàn thành việc chuyển đổi sang mô hình kiểu mới theo quy định của pháp luật. Số lượng hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã thành lập mới tăng đáng kể, phát triển đa dạng hơn về ngành nghề, quy mô và trình độ, hỗ trợ tốt hơn cho các thành viên, tạo việc làm và nâng cao thu nhập thường xuyên cho người lao động. Tổ hợp tác với cơ cấu tổ chức gọn nhẹ, nội dung hoạt động đơn giản nhưng thiết thực, đáp ứng tốt hơn nhu cầu liên kết linh hoạt và mang tính ngắn hạn của người dân. Liên kết giữa các hợp tác xã với nhau, với doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế khác bước đầu phát triển. Khu vực kinh tế tập thể cơ bản đã khắc phục được tình trạng yếu kém kéo dài, góp phần xây dựng nông thôn mới, bảo đảm an sinh, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, từng bước khẳng định vị trí, vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân.

LịỊch sử hình thành

Ngày 11/4/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết thư­ gửi điền chủ nông gia Việt Nam kêu gọi tham gia hợp tác xã nông nghiệp. Sau lời kêu gọi của Ngư­ời, hàng loạt cơ sở kinh tế hợp tác đ­ược thành lập và các hợp tác xã phát triển mạnh mẽ vào những năm 50-60 của thế kỷ XX. Cùng với quá trình phát triển của phong trào hợp tác xã ở Việt Nam, các cơ quan quản lý, tổ chức đại diện và hỗ trợ cho các hợp tác xã cũng từng bước được  thành và phát triển.

Năm 1955, Ban quản lý hợp tác xã mua bán Việt Nam được thành lập. Đến năm 1961 thành lập Liên hiệp xã tiểu thủ công nghiệp Việt Nam. Đây là hai tổ chức cấp quốc gia quản lý, đại diện, hỗ trợ các hợp tác xã mua bán và tiểu thủ công nghiệp trên quy mô cả nước.

Ngày 18/12/1991, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (nay là Thủ tướng Chính phủ) ra Quyết định số 409/CT thành lập Hội đồng Trung ương lâm thời các doanh nghiệp ngoài quốc doanh Việt Nam trên cơ sở hợp nhất Liên hiệp Hợp tác xã tiểu thủ công nghiệp Trung ương và Ban quản lý hợp tác xã mua bán Việt Nam.

Ngày 30/10/1993, Đại hội đại biểu toàn quốc các hợp tác xã Việt Nam lần thứ nhất được tiến hành. Đại hội đã thông qua Điều lệ Hội đồng Trung ương Liên minh các hợp tác xã Việt Nam là tổ chức hỗ trợ, đại diện và bảo vệ quyền, lợi ích cho các hợp tác xã thuộc các lĩnh vực tiểu thủ công nghiệp, giao thông vận tải, thương mại dịch vụ, xây dựng và các ngành nghề phi nông nghiệp khác. Điều lệ của Hội đồng Liên minh hợp hợp tác xã Việt Nam được Thủ tướng Chính phủ chuẩn y tại Quyết định số 582-TTg/QĐ ngày 01/12/1993. Đến nay, Điều lệ của Liên minh hợp tác xã Việt Nam được Thủ tướng Chính phủ chuẩn y tại Quyết định số 105/QĐ-TTg ngày 24/01/2017.

Kinh tế tập thể, HTX phát triển ngày càng mạnh mẽ

Hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã, tổ hợp tác thành lập mới tăng ở tất cả các tỉnh, thành phố và một số nơi vượt chỉ tiêu đề ra; một số sáng lập viên trẻ khởi nghiệp qua mô hình tổ hợp tác, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã

9 tháng đầu năm 2022, cả nước thành lập mới 1.396 HTX, cao hơn 89 HTX so với cùng kỳ năm 2021, đạt 93,1% chỉ tiêu kế hoạch năm 2022 (1.091 HTX nông nghiệp (78,2%); 305 HTX phi nông nghiệp (21,8%)). Phân theo vùng kinh tế, Đông Bắc, 321 HTX (23%); Tây Bắc, 254 HTX (18,2%); Đồng bằng sông Cửu Long, 180 HTX (12,9%); Đồng bằng sông Hồng, 171 HTX (12,25%); Bắc Trung Bộ, 152 HTX (10,89%); Tây Nguyên, 150 HTX (10,74%); Đông Nam Bộ, 105 HTX (7,52%); Duyên hải miền Trung, 63 HTX (4,5%). Tại một số địa phương, tỷ lệ cao các sáng lập viên trẻ, nhiệt huyết, có kiến thức, trình độ về các lĩnh vực khởi nghiệp qua mô hình THT, HTX, LHHTX. Số lượng HTX, LHHTX, THT thành lập mới và hộ cá thể, cá nhân tham gia thành viên tăng khá ở hầu hết các tỉnh, thành phố, nhất là lĩnh vực nông nghiệp và địa bàn nông thôn, cho thấy mô hình kinh tế tập thể phù hợp với nhu cầu tổ chức sản xuất của người dân.

Cả nước giải thể 269 HTX[1] (210 HTX nông nghiệp và 59 HTX phi nông nghiệp), tăng 61 HTX so với cùng kỳ năm 2021; trong đó Đông Bắc (86 HTX), Đồng bằng sông Cửu Long (50 HTX), Bắc Trung Bộ (30 HTX), Tây Bắc (31 HTX), Tây Nguyên (28 HTX), Đông Nam Bộ (16 HTX), Duyên hải miền Trung (16 HTX), Đồng bằng sông Hồng (12 HTX).

Hiện cả nước có 28.452 HTX, tăng 1.127 HTX so với cuối năm 2021 (18.974 HTX nông nghiệp (66,7%); 8.297 HTX phi nông nghiệp (29,2%); 1.181 Quỹ tín dụng nhân dân (4,1%)). Trong đó, Đồng bằng sông Hồng 7.109 HTX (24,98%), Đông Bắc có 5.087 HTX (17,88%), Bắc Trung bộ 4.216 HTX (14,82%), Đồng bằng sông Cửu Long 3.320 HTX (11,67%), Tây Bắc 3.005 HTX (10,56%), Đông Nam Bộ 2.230 HTX (7,84%), Tây Nguyên 1.909 HTX (6,71%), Duyên hải miền Trung 1.576 HTX (5,54%).

Khu vực HTX thu hút trên 6,92 triệu thành viên (tăng 90.929 thành viên so với cuối năm 2021) và 2,56 triệu lao động (tăng 59.993 lao động so với cuối năm 2021). Tổng vốn điều lệ đạt trên 53,8 nghìn tỷ đồng, trung bình gần 1,9 tỷ đồng/HTX. Tổng giá trị tài sản đạt trên 187,1 nghìn tỷ đồng (tăng khoảng 2% so với cuối năm 2021).

Các loại hình hợp tác xã phục hồi sản xuất kinh doanh sau thời kỳ dài dịch bệnh Covid-19 diễn ra phức tạp, kéo dài, hoàn thiện các chuỗi giá trị sản phẩm địa phương, vùng, quốc gia; góp phần ổn định giá cả, thị trường cung ứng sản phẩm, tạo việc làm, ổn định kinh tế xã hội khu vực nông thôn và đô thị

9 tháng đầu năm, dịch Covid-19 cơ bản được kiểm soát; tỷ lệ cao các loại hình hợp tác xã phục hồi sản xuất kinh doanh sau thời kỳ dài dịch bệnh Covid-19 diễn ra phức tạp; phục hồi dần trong đầu quý II, phục hồi nhanh, mạnh trong cuối quý II tới đầu quý III, hiện duy trì tính ổn định và phát triển bền vững. Tuy doanh thu và lợi nhuận chưa thực cao và ổn định bền vững nhưng tỷ lệ cao các HTX đã chú trọng thực hiện tốt các khâu dịch vụ cơ bản hỗ trợ các thành viên, hướng dẫn thành viên sản xuất theo đúng kế hoạch, mở rộng các khâu dịch vụ và nâng cao chất lượng hoạt động của HTX, tạo việc làm, nâng cao thu nhập thành viên.

Nhiều HTX nông nghiệp ở các tỉnh, thành phố phục hồi nhờ mạnh dạn đẩy mạnh chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi (lúa kết hợp hoặc chuyển sang trồng rau, củ quả, cây ăn quả, nuôi thủy sản; áp dụng sáng tạo các tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ mới, công nghệ cao để tăng năng suất và nâng cao chất lượng sản phẩm đạt các tiêu chuẩn chất lượng (VietGap, hữu cơ, GlobalGap, JAS,…); chủ động, tích cực trong nâng cao năng lực, khả năng cạnh tranh thông qua đổi mới hệ thống quản trị gắn với ứng dụng công nghệ thông tin, áp dụng các phần mềm quản lý, chuyển đổi số trong quản lý tổ chức sản xuất từ đầu vào tới sản xuất và tiêu thụ sản phẩm trong nước và xuất khẩu qua các kênh bán hàng; để thích ứng với thị trường nhằm vượt qua những tác động mạnh sau dịch Covid-19; hoàn thiện các chuỗi giá trị sản phẩm địa phương, vùng, quốc gia; phát triển mở rộng gắn với quy hoạch vùng sản xuất; nâng cao chất lượng cung ứng dịch vụ thành viên; đẩy mạnh liên kết các thành viên và các HTX, doanh nghiệp, tập đoàn kinh tế. Một số HTX nông nghiệp có sản phẩm xuất khẩu; một số HTX có doanh thu tăng 6,7-19,2% so với cùng kỳ năm 2021; thu nhập bình quân tăng, đạt 350-450 triệu đồng/ha; như HTX nông nghiệp & phát triển nông thôn Hưng Thành ở xã Hưng Khánh, huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái đã liên kết thành công với HTX Măng tre Bát Độ (Hưng Khánh, tỉnh Yên Bái) và Công ty TNHH YAMAZAKY trong việc trồng, chăm sóc, thu mua, chế biến và xuất khẩu ổn định sang thị trường Nhật Bản, HTX nông sản hữu cơ Trúc Phương (Thanh Hóa), HTX công nghệ cao Kim Long (Bình Dương), HTX Sunfood (Đà Lạt),… Xuất hiện nhiều mô hình hiệu quả trong trồng cây dược liệu, mô hình du lịch sinh thái cộng đồng (sản xuất nông nghiệp kết hợp bảo vệ thiên nhiên, đa dạng sinh học, cung ứng dịch vụ nhà hàng, du lịch trải nghiệm,…), phát triển mô hình cánh đồng mẫu lớn gắn với sản xuất hàng hóa chất lượng cao, như HTX nông nghiệp và du lịch bền vững Hội An (Quảng Nam), HTX du lịch sinh thái cộng đồng Hướng Hóa (Quảng Trị). Số lượng sản phẩm của HTX được chứng nhận OCOP tăng, chiếm tỷ trọng cao so với tổng sản phẩm OCOP của địa phương, Đắk Nông có 16 HTX và 19 sản phẩm (cà phê, hồ tiêu, chanh dây,…); Hà Tĩnh có 62 HTX và 82 sản phẩm (nước mắm, rượu nhung hươu, hương trầm, bưởi phúc trạch, cam Khe mây,..),…; HTX Đông Xuyên tại Tiền Hải (Thái Bình) có sản phẩm trứng và thịt vịt đạt OCOP 4 sao.

Các HTX phi nông nghiệp phục hồi mạnh mẽ sản xuất kinh doanh. HTX thương mại, dịch vụ đổi mới phương thức kinh doanh, nâng cao chất lượng dịch vụ, bám sát nhu cầu thị trường, đa dạng hóa sản phẩm hàng hóa; tổ chức các loại hình dịch vụ, liên kết duy trì ổn định đảm bảo nguồn hàng trong cung ứng nguyên liệu sản xuất và tiêu thụ sản phẩm đầu ra đối với các HTX, nhất là lĩnh vực sản xuất nông nghiệp. HTX vận tải đẩy mạnh các hoạt động hỗ trợ thành viên trong tư vấn, một số mở rộng lĩnh vực hoạt động xe buýt, vệ sinh môi trường; phục hồi đăng ký lưu hành, bến bãi, luồng tuyến; đầu t­­ư đổi mới, nâng cấp phương tiện hiện đại; lắp đặt hệ thống định vị GPS; đáp ứng quy định, yêu cầu, nhu cầu vận chuyển hành khách và hàng hóa; tuyên truyền, cung cấp các văn bản pháp luật an toàn giao thông để thành viên áp dụng thực hiện; đổi mới phương thức quản lý và phong cách phục vụ hành khách. HTX xây dựng và sản xuất vật liệu xây dựng đã tập trung huy động vốn, đầu tư phương tiện vận tải, máy móc, thiết bị thi công, nâng cao công tác quản lý đầu tư để mở rộng khai thác, sản xuất vật liệu xây dựng và thi công các công trình xây dựng; năng động trên thị trường để tìm kiếm việc làm, tăng thu nhập cho thành viên. HTX vệ sinh môi trường đã làm tốt thu gom, vận chuyển rác thải trên địa bàn; mô hình HTX chợ hoạt động ổn định[3], tạo việc làm cho thành viên và người lao động. Quỹ tín dụng nhân dân phát triển thành viên mới, tăng dư nợ và hiệu quả cho vay; HTX và LHHTX thương mại tăng doanh thu hơn 25% so với cùng kỳ năm 2021. Tiêu biểu, HTX sản xuất TM&DV nông nghiệp Phì Điền (Lục Ngạn, Bắc Giang) ngoài việc thu mua, tiêu thụ 500 tấn vải tươi qua hệ thống siêu thị: Winmart, LotteVina, T-Mart và sàn TMĐT Postmart.vn, hợp đồng với Công ty TNHH Tiến Dung (Đồng Nai), cung ứng vải khô vào các tỉnh phía Nam với sản lượng khoảng 100 tấn, liên kết với Công ty cổ phần nông nghiệp hữu cơ FUSA (Hải Dương) xuất khẩu sản phẩm tươi sang thị trường Trung Đông, Nhật Bản và xuất vải thiều khô sang Đài Loan.

Các LHHTX tạo việc làm ổn định cho thành viên và người lao động, cung ứng các sản phẩm, dịch vụ theo nhu cầu của thành viên và thị trường; liên kết giữa các HTX thành viên với các doanh nghiệp, tập đoàn lớn; thực hiện tốt khâu tổ chức sản xuất, tìm thị trường tiêu thụ cho các HTX thành viên như: LHHTX thương mại TP. Hồ Chí Minh (Saigon Coop), SATRA, HTX liên kết chuỗi CocoFood (Hải Dương).

Nhiều chủ trương của Đảng, nhà nước, các Bộ, ban ngành địa phương đã tạo điều kiện quan trọng, hỗ trợ khu vực KTTT tiếp tục phát triển và đột phá hơn trong thời gian tới; một số cơ chế, chính sách có quy định đối tượng HTX nhằm hỗ trợ phát triển sản xuất kinh doanh, sản xuất theo chuỗi giá trị sản phẩm trong điều kiện phòng, chống dịch và phục hồi, phát triển kinh tế xã hội

Ở Trung ương, nhiều chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước, Bộ, ngành về phát triển KTTT, HTX, thể hiện quan điểm nhất quán trong phát triển, tạo điều kiện quan trọng, hỗ trợ khu vực KTTT tiếp tục phát triển và đột phá hơn trong thời gian tới như Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 16/6/2022 về tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả KTTT trong giai đoạn mới. Bên cạnh đó, các chính sách phục hồi kinh tế trong đó có đối tượng thụ hưởng là HTX được ban hành; Nghị quyết số 43/2022/QH15 ngày 11/01/2022 của Quốc hội; Nghị định số 15/2022/NĐ-CP ngày 28/01/2022 của Chính phủ.

Một số văn bản, chính sách hỗ trợ của Chính phủ, tháo gỡ khó khăn để phục hồi sản xuất, kinh doanh, trong đó có đối tượng thụ hưởng là HTX, chế độ hỗ trợ, ưu đãi như: lĩnh vực tín dụng (Nghị định số 31/2022/NĐ-CP, Nghị định số 28/2022/NĐ-CP, Thông tư số 03/2022/TT-NHNN); thuế (Nghị quyết số 18/2022/UBTVQH15, Nghị định số 34/2022/NĐ-CP); chế độ tiền lương (Nghị định số 38/2022/NĐ-CP ngày 12/6/2022); tiền thuê nhà (Quyết định số 08/2022/QĐ-TTg); nông nghiệp, nông thôn, bảo hiểm nông nghiệp (Quyết định số 150/QĐ-TTg ngày 28/01/2022, Quyết định số 13/2022/QĐ-TTg); vận tải (Nghị định số 47/2022/NĐ-CP); chương trình quốc gia (Quyết định số 919/QĐ-TTg ngày 01/8/2022, Quyết định số 923/QĐ-TTg ngày 02/8/2022, Quyết định số 924/QĐ-TTg ngày 02/8/2022); chương trình mục tiêu quốc gia (Nghị định số 28/2022/NĐ-CP ngày 26/4/2022, Quyết định số 277/QĐ-TTg ngày 25/2/2022);…

Một số Bộ, ngành ban hành văn bản như: Quyết định số 4292/QĐ-TLĐ ngày 01/3/2022 của Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam về việc dừng thực hiện Quyết định số 3749/QĐ-TLĐ ngày 15/12/2021 về chi hỗ trợ cho đoàn viên, người lao động bị ảnh hưởng bởi dịch bệnh Covid-19; Thông tư số 15/2022/TT-BTC ngày 04/3/2022 của Bộ Tài chính về quản lý và sử dụng kinh phí sự nghiệp thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia Phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2030, giai đoạn I: từ năm 2021 đến năm 2025; Thông tư 27/2022/TT-BTC ngày 11/05/2022 của Bộ trưởng Bộ Tài chính bãi bỏ quyết định số 59/2007/QĐ-BTC ngày 11/7/2007 của Bộ trưởng Bộ Tài chính phê duyệt Điều lệ tổ chức và hoạt động của Quỹ Hỗ trợ phát triển HTX; Thông tư 03/2022/TT-NHNN ngày 20/5/2022 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban hành hướng dẫn Nghị định 31/2022/NĐ-CP hỗ trợ lãi suất với khoản vay của doanh nghiệp, HTX, hộ kinh doanh; Thông tư số 52/2022/TT-BTC ngày 12/8/2022 của Bộ Tài chính hướng dẫn một số điều của Nghị định số 45/2021/NĐ-CP ngày 31 tháng 03 năm 2021 của Chính phủ về thành lập, tổ chức và hoạt động của Quỹ hỗ trợ phát triển hợp tác xã;…

Khu vực KTTT, HTX tích cực trong tuyên truyền, thực hiện nghiêm túc các biện pháp phòng chống dịch bệnh Covid-19; phố biến những văn bản, quy định về phát triển kinh tế tập thể, phục hồi kinh tế có đối tượng thụ hưởng HTX. Đến nay, 92,7% thành viên, người lao động của THT, HTX, LHHTX được tiêm ít nhất 02 mũi vắc xin, 42,3% được tiêm trên 03 mũi vắc xin, 21,2% đã được tiêm 04 mũi vắc xin. Theo khảo sát; 81% tổng số HTX nông nghiệp, thủy sản nuôi trồng bị ảnh hưởng bởi Covid-19 được giảm 30% tiền thuê đất, thuê mặt nước; hơn 100.000 lao động trong khu vực HTX được hỗ trợ 72 tỷ đồng tiền thuê nhà; 78,2% tổng số HTX và người lao động trong HTX được gia hạn thời hạn nộp thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân,…; 11,4% tổng số HTX được giảm thuế giá trị gia tăng; 71,6% tổng số HTX, trong đó 100% HTX vận tải được giảm thuế bảo vệ môi trường đối với xăng dầu; các HTX vay vốn tại ngân hàng thương mại được cơ cấu lại thời hạn trả nợ, giữ nguyên nhóm nợ; một số HTX nông nghiệp, vận tải, du lịch vay vốn tại ngân hàng thương mại được giảm lãi suất 2%; 220 HTX, LHHTX vay vốn ưu đãi của Quỹ Hỗ trợ phát triển HTX Việt Nam và các Quỹ Hỗ trợ phát triển HTX tỉnh, thành phố để phục hồi, mở rộng sản xuất, kinh doanh[4]; 400.000 lao động trong các HTX, LHHTX (có hợp đồng lao động và đóng bảo hiểm) bị ảnh hưởng bởi Covid-19 được hỗ trợ từ Quỹ Bảo hiểm thất nghiệp 204 tỷ đồng.

Các HTX, LHHTX chủ động nắm bắt các chủ trương, định hướng, tập trung sản xuất, liên kết và đẩy nhanh các điều kiện trong chuyển đổi số, sản xuất hữu cơ, phát triển mô hình gắn với kinh tế tuần hoàn, kinh tế xanh, kinh tế chia sẻ; phù hợp nội dung Nghị quyết 20-NQ/TW; xu hướng và chiến lược phát triển bền vững của nền kinh tế; phối hợp các Bộ, Sở, ngành tham gia đề xuất, kiến nghị sửa đổi Luật HTX năm 2012

Theo khảo sát, 65% HTX, LHHTX sử dụng các nền tảng ứng dụng công nghệ thông tin, phần mềm quản trị dữ liệu trong hoạt động đầu vào, đầu ra,…; truy xuất thông tin, nguồn gốc sản phẩm; nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động. Trong lĩnh vực nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ, quỹ tín dụng nhân dân ứng dụng công nghệ số mang lại hiệu quả, liên kết chuỗi giá trị và được Nhà nước, các tổ chức trong, ngoài nước hỗ trợ, tiêu thụ sản phẩm thông qua thương mại điện tử, sàn bán hàng điện tử của Liên minh HTX Việt Nam. HTX vận tải đầu tư thiết bị, phần mềm để quản trị hành trình, khách hàng và vận chuyển hàng hóa, tích hợp thanh toán tự động không dừng; HTX thương mại đầu tư mở rộng kho và cửa hàng, thiết bị ứng dụng phần mềm bán hàng, quản lý nhập, xuất hàng hóa. Các HTX có website riêng để giới thiệu sản phẩm (38,9%); bán hàng trên các sàn thương mại điện tử như Tiki, Lazada, Shopee,… (20,8%); quảng cáo sản phẩm trên các trang mạng xã hội, trang quảng cáo (50,5%); bán hàng theo hình thức trực tuyến livetream trên các nền tảng số như Facebook, Tiktok… (28,3%).

Nhiều loại hình hợp tác xã phát triển mạnh mẽ từ nhận thức tới hành động, triển khai ở nhiều địa phương, vùng miền, hướng sản xuất những sản phẩm đi từ nhu cầu thực tiễn của người tiêu dùng, hầu hết hướng sản xuất theo các chuỗi giá trị sản phẩm; tham gia các hội thảo, tọa đàm từ các Bộ, Sở, ngành, góp ý xây dựng dự thảo Luật HTX sửa đổi năm 2012. Xu hướng chuyển đổi số, sản xuất hữu cơ, phát triển các mô hình gắn với kinh tế tuần hoàn, kinh tế xanh, kinh tế chia sẻ. Một số mô hình HTX nông nghiệp, HTX du lịch gắn kết sản xuất nông nghiệp đã thực hiện kinh tế tuần hoàn trong quá trình sản xuất, thu gom, phân loại các chất thải, phế phụ phẩm; tái sử dụng chất thải, làm nguyên liệu đầu vào cho quá trình sản xuất thông qua việc áp dụng công nghệ sinh học, công nghệ hóa lý, các tiến bộ khoa học kỹ thuật; thực hiện quản lý, sử dụng hiệu quả tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường cho phát triển bền vững trong bối cảnh của thiên tai, dịch bệnh và biến đổi khí hậu, phù hợp định hướng của quốc gia trong phát triển bền vững. Mô hình phổ biến vườn – ao – chuồng (VAC) tại HTX nông nghiệp Mai Pha Land (Mai Pha, Lạng Sơn), HTX Hoằng Đạo (Thanh Hóa); mô hình lúa – tôm, lúa – cá; HTX nông nghiệp và du lịch bền vững Hội An (Heal Organic Farm) phát triển chuỗi giá trị nông nghiệp xanh.

Cổng Thông tin VCA

Bộ trưởng Huỳnh Thành Đạt: Nghiên cứu khoa học là dấn thân

Nghiên cứu khoa học là hoạt động dấn thân, thám hiểm vào các vấn đề, lĩnh vực mới, một hướng nghiên cứu không thành công cũng là đóng góp có giá trị, theo Bộ trưởng Huỳnh Thành Đạt.

Chiều 31/10, giải trình trước Quốc hội, Bộ trưởng Khoa học và Công nghệ Huỳnh Thành Đạt cho biết, bản chất nghiên cứu khoa học là tính mới, tính rủi ro và có độ trễ. Các nghiên cứu được triển khai trong nhiều giai đoạn, nhiều kết quả nghiên cứu thành công vẫn cần tiếp tục được đầu tư nguồn lực từ ngân sách nhà nước hoặc nguồn lực xã hội để phát huy trong thực tế.

Thời gian qua, khoa học công nghệ đã đóng góp vào phát triển kinh tế – xã hội qua một số chỉ tiêu. Đó là chỉ số đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng; tốc độ tăng năng suất lao động bình quân; tỉ trọng giá trị xuất khẩu sản phẩm công nghệ cao trong tổng giá trị xuất khẩu hàng hoá; chỉ số đổi mới sáng tạo của Việt Nam (GII); số lượng vốn được công bố đầu tư vào các doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo; số lượng bài báo công bố quốc tế của Việt Nam; cơ cấu đầu tư cho khoa học công nghệ từ ngân sách và doanh nghiệp; số đơn đăng ký bảo hộ sáng chế, giải pháp hữu ích của người nộp đơn có quốc tịch Việt Nam.

“Giai đoạn 2016-2020, các chỉ tiêu này đều có tăng trưởng tốt hơn nhiều so với giai đoạn trước đó”, Bộ trưởng Khoa học và Công nghệ cho hay.

Bộ trưởng Khoa học và Công nghệ Huỳnh Thành Đạt giải trình tại Quốc hội, chiều 31/10. Ảnh: Hoàng Phong

Bộ trưởng Khoa học và Công nghệ Huỳnh Thành Đạt giải trình tại Quốc hội, chiều 31/10. Ảnh: Hoàng Phong

Xây dựng bộ chỉ số đổi mới sáng tạo

Từ năm 2013 đến nay, Bộ đã xây dựng và công bố sách trắng hằng năm. Cách đây vài ngày, sách Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo Việt Nam năm 2021 đã được chuyển qua thư viện Quốc hội để gửi tới đại biểu. Bộ đang phối hợp với Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới xây dựng bộ chỉ số đổi mới sáng tạo cấp địa phương và tổ chức đánh giá thử nghiệm tại một số nơi, nhằm đo lường năng lực và kết quả.

Bộ chỉ số này đồng bộ với chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII) của Việt Nam. Từ đó, đánh giá được tác động giữa hoạt động khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo với phát triển kinh tế – xã hội ở từng vùng, miền.

Bộ Khoa học và Công nghệ cũng đã hình thành hệ thống chỉ tiêu thống kê, phản ánh tình hình và kết quả hoạt động khoa học công nghệ chủ yếu của đất nước. Đây là cơ sở đánh giá, dự báo, hoạch định chiến lược, chính sách, xây dựng kế hoạch phát triển khoa học và công nghệ từng thời kỳ.

Dù vậy, Bộ trưởng Huỳnh Thành Đạt thừa nhận, khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo chưa thực sự là động lực và nền tảng cho phát triển kinh tế – xã hội. Nhiều kết quả từ các nhiệm vụ sử dụng ngân sách còn chậm được ứng dụng trong thực tiễn do vướng mắc về quản lý tài sản công… Bộ Khoa học và Công nghệ sẽ tiếp tục tổ chức và thực hiện các giải pháp để giải quyết những tồn tại này trong thời gian tới.

Bộ trưởng Khoa học và Công nghệ Huỳnh Thành Đạt phát biểu giải trình tại Quốc hội, chiều 31/10. Video: Truyền hình Quốc hội

Bỏ quy định cứng nhắc liên quan Quỹ phát triển khoa học công nghệ

Bộ trưởng Đạt cho biết, khoảng 10 năm trước, kinh phí hoạt động khoa học công nghệ chủ yếu dựa vào ngân sách (70-80%). Đến nay, đầu tư cho khoa học công nghệ từ ngân sách và từ doanh nghiệp đã tương đối cân bằng với tỷ lệ 52 và 48%. Đến năm 2030, tỷ trọng này được kỳ vọng đạt 30/70 như các nước tiên tiến.

Về Quỹ phát triển khoa học công nghệ của doanh nghiệp, theo số liệu của Tổng cục Thuế, giai đoạn 2015-2021, có gần 1.300 lượt doanh nghiệp trích lập quỹ, với số tiền hơn 23.000 tỷ đồng, trong đó số sử dụng 14.000 tỷ đồng (chiếm 60%).

Tuy vậy, việc trích lập và sử dụng quỹ có vướng mắc, như tỷ lệ trích lập chưa phù hợp với cơ cấu và quy mô của doanh nghiệp Việt Nam, trong đó phần lớn là doanh nghiệp vừa và nhỏ. Không có doanh nghiệp FDI nào trích lập quỹ, cho thấy cơ chế khuyến khích trích lập và sử dụng chưa đủ hấp dẫn.

Quy định hiện nay không cho phép sử dụng quỹ để mua sắm máy móc, thiết bị, đổi mới công nghệ phục vụ trực tiếp cho hoạt động sản xuất kinh doanh. Các quy định về quản lý quỹ cũng không phát huy tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của doanh nghiệp. Ngoài ra, thủ tục hành chính trong kiểm soát chi của quỹ chưa linh động và chưa phù hợp với đặc thù; thủ tục mua sắm phục vụ nhiệm vụ khoa học công nghệ thực hiện theo dự án đầu tư, chưa phù hợp với đặc thù tính mới, hiếm, kịp thời, rủi ro cao của hoạt động này.

Để tháo gỡ một phần khó khăn, Bộ Khoa học và Công nghệ đã ban hành thông tư năm 2022 hướng dẫn sử dụng Quỹ phát triển khoa học công nghệ của doanh nghiệp. Thông tư đã bãi bỏ các quy định cứng nhắc, không đúng với tinh thần tôn trọng vai trò tự chủ của doanh nghiệp trong việc sử dụng nguồn từ quỹ.

Nhằm khuyến khích hơn nữa doanh nghiệp trích lập và sử dụng quỹ, Bộ sẽ đề xuất Chính phủ nghiên cứu sửa đổi các quy định của Luật Khoa học và Công nghệ năm 2013; nghị định 95 về cơ chế tài chính và đầu tư cho khoa học công nghệ. Đồng thời, Bộ sẽ nghiên cứu, tham mưu Chính phủ báo cáo Quốc hội về cơ chế đặc thù trong mua sắm, đầu tư từ nguồn của quỹ cho nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ.

Nguồn: vnexpress.net

Sẽ vận hành ba sàn giao dịch công nghệ quốc gia

Theo Bộ trưởng Khoa học và Công nghệ Huỳnh Thành Đạt, ba sàn giao dịch công nghệ quốc gia sẽ được hình thành, kết nối với các sàn giao dịch khu vực, thế giới.

Chiều 23/9, Thủ tướng Phạm Minh Chính chủ trì hội nghị phát triển thị trường khoa học và công nghệ đồng bộ, hiệu quả, hiện đại và hội nhập.

Báo cáo tại hội nghị, Bộ trưởng Khoa học và Công nghệ Huỳnh Thành Đạt cho biết, nhu cầu đổi mới công nghệ của doanh nghiệp Việt Nam trong thời gian tới rất lớn. Trong đó, hoàn thiện thị trường khoa học và công nghệ là giải pháp trọng tâm, lâu dài để hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh.

Bảy giải pháp được lãnh đạo ngành đưa ra, trong đó có phát triển hạ tầng quốc gia cho thị trường khoa học và công nghệ. Theo đó, Việt Nam sẽ hình thành và vận hành ba sàn giao dịch công nghệ quốc gia tại ba miền đất nước. Đây là tổ chức trung gian của thị trường khoa học và công nghệ, nhằm kết nối cung – cầu; thương mại hóa kết quả nghiên cứu; hỗ trợ các tổ chức, cá nhân trưng bày, trình diễn, triển lãm, xúc tiến giao dịch sản phẩm khoa học và công nghệ.

Theo Bộ trưởng, cần đầu tư xây dựng cơ sở dữ liệu dùng chung và cổng thông tin về thị trường khoa học và công nghệ; đầu tư phát triển và ứng dụng các công cụ phân tích, thống kê, xử lý dữ liệu giao dịch công nghệ, quản trị và kết nối cơ sở dữ liệu dùng chung, số hóa, tích hợp dữ liệu. Bên cạnh đó, cần thiết lập mạng lưới kết nối và đầu tư xây dựng cơ sở dữ liệu nhân tài người nước ngoài và người Việt Nam ở nước ngoài tham gia hoạt động đổi mới sáng tạo, phát triển thị trường khoa học công nghệ Việt Nam.

Bộ trưởng Khoa học và Công nghệ Huỳnh Thành Đạt. Ảnh: Hoàng Phong

Bộ trưởng Khoa học và Công nghệ Huỳnh Thành Đạt. Ảnh: Hoàng Phong

Người đứng đầu Bộ Khoa học và Công nghệ cũng cho hay, các doanh nghiệp sẽ được hỗ trợ đánh giá nhu cầu công nghệ, khả năng cung ứng, khai thác nguồn tài sản trí tuệ; phân tích xu hướng công nghệ; thúc đẩy doanh nghiệp sử dụng công nghệ để tăng năng suất lao động. Nguồn cung, các kênh nhập khẩu công nghệ tiên tiến sẽ được hình thành, ưu tiên từ nước phát triển.

Ông Đạt cũng cho biết sẽ liên thông, tiến tới đồng bộ hóa thị trường khoa học công nghệ với thị trường hàng hóa, lao động, tài chính. Doanh nghiệp được hỗ trợ nắm vững tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật; thực hiện bảo hộ, khai thác tài sản trí tuệ phục vụ hoạt động thương thảo, giao dịch, mua bán.

Môi trường pháp lý sẽ được hoàn thiện; thúc đẩy các hoạt động hợp tác quốc tế, đặc biệt là chuyển giao, làm chủ, phát triển công nghệ từ nước ngoài vào Việt Nam trong các ngành, lĩnh vực ưu tiên. “Chính sách khuyến khích chuyển giao công nghệ từ doanh nghiệp FDI sang doanh nghiệp phụ trợ trong nước sẽ được xây dựng”, Bộ trưởng Đạt nói.

Trước đó, phát biểu khai mạc, Thủ tướng Phạm Minh Chính cho rằng những năm qua, thị trường khoa học công nghệ Việt Nam đã được đầu tư, bước đầu hình thành, phát triển, đạt được kết quả nhất định. Tuy nhiên, so với yêu cầu phát triển và một số thị trường khác thì thị trường khoa học công nghệ phát triển chậm, nhiều vướng mắc, chưa gắn kết chặt chẽ giữa đào tạo, nghiên cứu, ứng dụng với nhu cầu sản xuất, kinh doanh.

Phát triển mạnh mẽ thị trường công nghệ là một trong những giải pháp chủ yếu thúc đẩy đổi mới sáng tạo để tạo bứt phá về năng suất, chất lượng, hiệu quả, tăng sức cạnh tranh trong cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư.

Thủ tướng Phạm Minh Chính. Ảnh: Hoàng Phong

Thủ tướng Phạm Minh Chính. Ảnh: Hoàng Phong

Vì vậy, Thủ tướng đề nghị đại biểu tập trung phân tích, đánh giá sự vận hành của thị trường khoa học công nghệ Việt Nam; làm rõ điểm mạnh – yếu; đánh giá tương tác, phối hợp giữa các chủ thể.

Ông cũng nêu hàng loạt vấn đề về: kết quả nghiên cứu, tài sản trí tuệ của các viện, trường khá dồi dào, nhưng hàng hóa khoa học công nghệ vẫn còn rất hạn chế? Tại sao nhu cầu tiếp thu, hấp thụ, làm chủ công nghệ mới luôn hiện hữu, song không phải doanh nghiệp nào cũng tích cực, hào hứng đầu tư mua sắm hàng hóa khoa học công nghệ”?.

Thủ tướng băn khoăn về vai trò kết nối của các tổ chức trung gian, môi giới đã thúc đẩy giao dịch, lưu thông hàng hóa khoa học công nghệ hay chưa? Hạ tầng quốc gia của thị trường khoa học công nghệ hiện nay ra sao, hội nhập với thị trường khu và quốc tế thế nào?

Thủ tướng đề nghị đại biểu làm rõ vấn đề cơ chế, chính sách phát triển thị trường khoa học công nghệ còn vướng ở đâu? Giải pháp đột phá nào để phát triển khoa học công nghệ đồng bộ, hiện đại thời gian tới?

Hiện cơ sở dữ liệu quốc gia về khoa học công nghệ có 22.500 thông tin về nguồn cung công nghệ; 365.000 thông tin về sở hữu trí tuệ. Số lượng nguồn cung công nghệ được thu thập và phổ biến khoảng 77.000 bản ghi. Tuy nhiên, chỉ 16% doanh nghiệp coi các viện nghiên cứu, đại học Việt Nam là nguồn cung hàng hóa này. Theo Tổng cục Thống kê, 75% công nghệ và thiết bị của doanh nghiệp Việt Nam có nguồn gốc nước ngoài.

Tổng chi phí mua sắm công nghệ, thiết bị, máy móc của doanh nghiệp cả nước năm 2020 là 40 tỷ USD, tăng 1,5 lần năm 2016. Cả nước có 800 tổ chức trung gian hoạt động trong thị trường khoa học công nghệ.

Nguồn: vnexpress.net

Phát triển nông nghiệp xanh, bền vững, ứng dụng công nghệ cao, ứng phó với biến đổi khí hậu

Chiều ngày 18/10, tại Hà Nội, Liên minh Hợp tác xã Việt Nam (VCA) phối hợp với Đại sứ quán Anh tổ chức Hội thảo “Phát triển nông nghiệp xanh, bền vững, ứng dụng công nghệ cao, ứng phó với biến đổi khí hậu”. Chủ trì hội thảo gồm có: Ông Iain Frew,  Đại sứ Vương quốc Anh tại Việt Nam; Ông Nguyễn Ngọc Bảo, Bí thư Đảng đoàn, Chủ tịch Liên minh Hợp tác xã Việt Nam; Ông Nguyễn Hoàng Giang, Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ; Bà Phạm Thị Hồng Yến, Ủy viên Thường trực Ủy Ban Kinh tế của Quốc hội.

Quang cảnh Hội thảo

Cùng tham dự Hội thảo gồm các đại biểu là lãnh đạo cơ quan Liên minh Hợp tác xã Việt Nam, đại diện các Ban, Bộ, ngành, đại diện lãnh đạo Liên minh HTX 12 tỉnh, thành phố, các HTX các tỉnh, đại diện từ các tổ chức nước ngoài tại Việt Nam, các chuyên gia, nhà khoa học từ các viện nghiên cứu, các trường đại học.

Hội thảo được tổ chức nhằm đánh giá thực trạng nông nghiệp xanh, bền vững, ứng dụng công nghệ cao, ứng phó với biến đổi khí hậu tại Việt Nam nói chung và của HTX tại Việt Nam nói riêng. Thông qua đây, hội thảo sẽ giới thiệu giải pháp phát triển nông nghiệp xanh, sản xuất bền vững, ứng dụng công nghệ cao và ứng phó với biến đổi khí hậu cho HTX. Chia sẻ kinh nghiệm phát triển đồng thời kết nối các HTX tại Việt Nam và tại Anh nhằm trao đổi kinh nghiệm, xúc tiến thương mại giữa hau bên.

Ông Iain Frew,  Đại sứ Vương quốc Anh tại Việt Nam phát biểu tại Hội thảo

Hội thảo tập trung vào các nội dung như Khung chương trình hợp tác FAO – Việt Nam về phát triển bền vững; nông nghiệp xanh và ứng phó với biến đổi khí hậu tại Việt Nam; ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất nông nghiệp tại HTX; Chính sách thúc đẩy sản xuất nông nghiệp xanh, bền vững, ứng dụng công nghệ cao, ứng phó với biến đổi khí hậu tại Việt Nam; Cà phê bền vững tại Việt Nam – khuyến nghị chính sách; Xuất khẩu gạo của Việt Nam biến động trong đại dịch Covid-19 và chuyển đổi bền vững; các giải pháp năng lượng xanh của Anh về sinh khối và chất thải nông nghiệp, di truyền học và kết nối thương mại giữa các HTX, doanh nghiệp giữa 2 nước.

Phát biểu khai mạc Hội thảo, Ông Nguyễn Ngọc Bảo, Bí thư Đảng đoàn, Chủ tịch Liên minh Hợp tác xã Việt Nam nhiệt liệt chào mừng và gửi lời cảm ơn chân thành tới các quý vị đại biểu đã đến tham dự và phát biểu tại Hội thảo. Đồng thời giới thiệu khái quát về tình hình phát triển KTTT tại Việt Nam cũng như chức năng, nhiệm vụ và hoạt động của Liên minh Hợp tác xã Việt Nam.

Ông Nguyễn Ngọc Bảo, Bí thư Đảng đoàn, Chủ tịch Liên minh Hợp tác xã Việt Nam phát biểu khai mạc Hội thảo

Theo đó, Tại Việt Nam, KTTT mà nòng cốt là HTX, là thành phần kinh tế quan trọng, luôn được Đảng, Nhà nước khuyến khích phát triển, xác định KTTT là thành phần kinh tế phù hợp với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, vừa phát huy vai trò của khu vực tư nhân, vừa tăng cường sức mạnh tập thể, cộng đồng, tăng sức mạnh của từng thành viên và của cả cộng đồng, góp phần nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế.

Sau Nghị quyết số 20 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam được ban hành ngày 16 tháng 6 năm 2022 về tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể, khu vực KTTT, HTX nước ta đã bước sang giai đoạn mới, trở thành thành phần kinh tế quan trọng, cùng kinh tế nhà nước trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân.

Tuy nhiên, do biến đổi khí hậu ảnh hưởng đối với các nước, đại dịch Covid-19 gây nên khủng hoảng kinh tế và đứt gãy chuỗi cung ứng, chuỗi giá trị toàn cầu. Kinh tế thế giới và khu vực phục hồi chậm, liên kết và tự do hoá thương mại vẫn là xu thế chủ đạo, nhiều nước tăng cường bảo hộ thương mại; khoa học, công nghệ, cách mạng công nghiệp lần thứ tư và kinh tế số phát triển nhanh; Phương thức kinh tế bao trùm, chia sẻ và xanh, cùng với đó là phát triển kinh tế hợp tác, HTX diễn ra phổ biến ở nhiều nước.

“Để tiếp tục duy trì tăng trưởng, khả năng cạnh tranh trong bối cảnh HTX phải đổi mặt với những khó khăn do đại dịch, biến đổi khí hậu, các nguồn tài nguyên đang dần cạn kiệt, gây ảnh hưởng tới hoạt động sản xuất kinh doanh thì HTX phải chuyển đổi mô hình theo hướng sản xuất bền vững, xanh hóa và ít phát thải, sử dụng tiết kiệm, hiệu quả tài nguyên thiên nhiên và năng lượng. Trong xu thế phát triển hiện nay, sản xuất xanh, ít phát thải và phát triển bền vững hiện đã trở thành mục tiêu mà nhiều quốc gia theo đuổi, trong đó có Việt Nam”. Ông Nguyễn Ngọc Bảo nhấn mạnh.

Phiên thảo luận với Chủ đề: “Cơ hội cho các nhà xuất khẩu Anh trong chuỗi bán lể của Việt Nam – Ứng dụng công nghệ xanh tại Việt Nam và cơ hội tham gia thị trường quốc tế” với sự điều hành của Ông Nguyễn Anh Đức, Tổng giám đốc Liên hiệp Hợp tác xã thương mại Tp. Hồ Chí Minh (Saigon Co.op) và Ông Ronal Bohlander- Tham tán về Biến đổi Khí hậu, Đại sứ quán Anh

Tại Hội thảo, đại biểu tham dự được lắng nghe các bài tham luận chất lượng từ cả phía Việt Nam và Vương quốc Anh về những chủ đề đang là xu hướng trên toàn cầu như: nông nghiệp công nghệ cao, phát triển nông nghiệp xanh bền vững, năng lượng xanh ứng phó với biến đổi khí hậu, chuyển đổi số trong phục hồi và phát triển sau đại dịch Covid-19.

Hội thảo đã cùng thống nhất Phát triển nông nghiệp xanh, bền vững, ứng công nghệ cao, ứng phó với biến đổi khí hậu là xu hướng chung hiện nay, nhất là trong bối cảnh các nước đang phục hồi sau đại dịch COVID-19 và đang phải đối mặt với các biến đổi phức tạp của thời tiết.

Lễ ký kết Biên bản ghi nhớ hợp tác giữa Viện Khoa học công nghệ và Môi trường với Công ty TNHH năng lượng tái tạo Qube

Thông qua hội thảo, nhiều đề xuất về các giải pháp ứng dụng công nghệ cao, chuyển đổi số vào phát triển HTX tại Việt Nam được đánh giá rất khả thi và thiết thực. Bên cạnh đó, Hội thảo cũng đã kết nối thành công được các HTX, doanh nghiệp của Việt Nam với các doanh nghiệp của Vương quốc Anh.

Cũng trong khuôn khổ Hội thảo đã diễn ra Lễ ký kết Biên bản ghi nhớ hợp tác giữa Viện Khoa học công nghệ và Môi trường với Công ty TNHH năng lượng tái tạo Qube (Anh) dưới sự chứng kiến của lãnh đạo Đại sứ Vương quốc Anh tại Việt Nam, Liên minh Hợp tác xã Việt Nam, Bộ Khoa học và Công nghệ, Ủy Ban Kinh tế của Quốc hội.

Một số hình ảnh tại Hội thảo:

Tiệc trà do Đại sứ Vương quốc Anh mời đoàn chủ tịch

Chủ tịch Liên minh Hợp tác xã Việt Nam Nguyễn Ngọc Bảo tặng quà lưu niệm cho Ông Iain Frew,  Đại sứ Vương quốc Anh tại Việt Nam

Ông Rémi Nono Womdim, Trưởng đại diện Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp của Liên hợp quốc (FAO) tại Việt Nam trình bày bài tham luận về “Khung chương trình hợp tác FAO-Việt Nam về phát triển bền vững”

Ông Lưu Quang Minh, Phó Vụ trưởng Vụ KH&CN các ngành kinh tế kỹ thuật, Bộ Khoa học và Công nghệ trình bày bài tham luận: Chính sách thúc đẩy sản xuất nông nghiệp xanh, bền vững, ứng dụng công nghệ cao, ứng phó với biến đổi khí hậu tại Việt Nam

Bà Nguyễn Khánh Ngọc, Phó Vụ trưởng, Vụ thị trường châu Âu- châu Mỹ Bộ Công Thương với bài tham luận về “Cơ hội và thách thức trong phát triển hợp tác nông nghiệp Việt Nam – Anh”

Ông Chu Tiến Đạt, Phó Trưởng ban HTQT, Liên minh HTX Việt Nam trình bày bài tham luận về “Tình hình ứng dụng công nghệ cao, chuyển đổi số trong phục hồi và phát triển khu vực KTTT, HTX trong và sau đại dịch “

Quang cảnh Hội thảo

Tin: Quỳnh Trang – Quang Trung

Ảnh: Lê Huy

Chuyển đổi số là nhu cầu tất yếu và động lực phát triển của các HTX, LHHTX

Ngày 23/9, tại trụ sở Chính phủ đã diễn ra Diễn đàn kinh tế hợp tác, hợp tác xã năm 2022 với chủ đề “Chuyển đổi số – Động lực phát triển KTHT, HTX xã trong kỷ nguyên mới gắn với Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 16/6/2022”. Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính chủ trì và chỉ đạo Diễn đàn.

Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính phát biểu chỉ đạo tại Diễn đàn

Diễn đàn được tổ chức theo hình thức trực tiếp tại Trụ sở Chính phủ, kết hợp trực tuyến tại điểm cầu 63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.

Dự diễn đàn tại đầu cầu Trụ sở Chính phủ có các Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Khái; các Bộ trưởng, Thủ trưởng các cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ; lãnh đạo các Ban, bộ, ngành Trung ương; đại diện các tổ chức quốc tế, các chuyên gia, nhà khoa học; đặc biệt là các tổ chức kinh tế hợp tác, doanh nghiệp liên kết.

Đồng chí Nguyễn Ngọc Bảo, Bí thư Đảng đoàn, Chủ tịch Liên minh Hợp tác xã Việt Nam phát biểu tại Diễn đàn

Đại diện Liên minh Hợp tác xã Việt Nam, đồng chí Nguyễn Ngọc Bảo, Bí thư Đảng đoàn, Chủ tịch Liên minh Hợp tác xã Việt Nam dự Diễn đàn và có bài phát biểu tham luận về Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị của các hợp tác xã và liên hiệp hợp tác xã trong chuyển đổi số. 

Cổng thông tin điện tử Liên minh Hợp tác xã Việt Nam xin đăng toàn văn bài phát biểu quan trọng này:

Đối với hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã, chuyển đổi số là quá trình ứng dụng công nghệ số và sử dụng cơ sở dữ liệu làm thay đổi mô hình kinh doanh, nhằm giảm chi phí, tiếp cận tối đa khách hàng, tăng năng suất và hiệu quả sản xuất, kinh doanh, mang lại lợi ích cho thành viên.

  1. Tình hình phục hồi và phát triển sản xuất, kinh doanh, chuyển đổi số của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã

1.1. Sáu tháng đầu năm 2022, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã, kể cả tổ hợp tác phục hồi và phát triển sản xuất, kinh doanh, đóng góp tích cực cho ổn định giá cả, tăng trưởng kinh tế, tạo việc làm, ổn định xã hội: Số lượng hợp tác xã (HTX), liên hiệp HTX (LHHTX), tổ hợp tác (THT) thành lập mới và hộ cá thể, cá nhân tham gia thành viên tăng khá ở hầu hết các tỉnh, thành phố, nhất là lĩnh vực nông nghiệp và địa bàn nông thôn (thành lập mới 756 HTX, 11.050 THT, 12 LHHTX); HTX, LHHTX, THT tăng số lượng và giá trị dịch vụ cung ứng cho thành viên, tạo việc làm cho thành viên và người lao động, doanh thu của HTX tăng bình quân 5,6% so với cùng kỳ năm 2021, HTX vận tải, thương mại và tín dụng đạt doanh thu ở mức cao; phần lớn HTX, LHHTX có lãi nhưng không cao do chi phí đầu vào tăng; thu nhập của thành viên HTX phi nông nghiệp tăng 6% so với cùng kỳ năm 2021. Sự phục hồi và phát triển sản xuất, kinh doanh của   HTX, LHHTX có nhiều nguyên nhân, trong đó: (1) Nhiều HTX, LHHTX đã tiếp cận và thụ hưởng chính sách hỗ trợ của Nhà nước trong Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế – xã hội về giảm tiền thuê đất, gia hạn thuế thu nhập doanh nghiệp, giảm thuế giá trị gia tăng, cơ cấu lại nợ tại các tổ chức tín dụng, vay vốn ưu đãi của Quỹ Hỗ trợ phát triển HTX trực thuộc hệ thống Liên minh HTX Việt Nam; hỗ trợ từ Quỹ Bảo hiểm thất nghiệp; (2) HTX, LHHTX đang từng bước thực hiện chuyển đổi số trong cung ứng đầu vào, canh tác, chế biến, truy xuất nguồn gốc, xây dựng thương hiệu, đa dạng hoá kênh tiêu thụ sản phẩm trong nước và xuất khẩu.

1.2. Một số kết quả đạt được về chuyển đổi số của HTX, LHHTX

(1) Nhiều HTX, LHHTX sử dụng các nền tảng ứng dụng công nghệ thông tin, phần mềm quản trị dữ liệu bằng các tệp máy tính có định dạng, trao đổi thông tin, quản trị hoạt động đầu vào, đầu ra,…; truy xuất thông tin, nguồn gốc sản phẩm; sử dụng hóa đơn điện tử trong hoạt động thanh toán. 65% số HTX được khảo sát vào tháng 6/2022 do Liên minh HTX cấp tỉnh thực hiện đã sử dụng công nghệ số ở mức độ khác nhau để quản trị hoạt động sản xuất, kinh doanh. Nhiều HTX, LHHTX ở lĩnh vực nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ ứng dụng công nghệ số mang lại hiệu quả do cán bộ có trình độ, sẵn sàng tiếp cận công nghệ mới, liên kết chuỗi giá trị và được Nhà nước, các tổ chức ở trong, ngoài nước hỗ trợ.

(2) Nhiều HTX, LHHTX nông nghiệp, công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp áp dụng công nghệ cao (tưới nhỏ giọt, lò sấy trống, chế biến cà phê ướt,…), sản xuất sản phẩm có thương hiệu (OCOP, hữu cơ, GlobalGap,…), tiêu thụ sản phẩm thông qua thương mại điện tử (Facebook, Zalo, Fanpage, Group, Shopee, Sendo, Tiki, Voso, Postmart,… ), Sàn bán hàng điện tử của Liên minh HTX Việt Nam. HTX vận tải đầu tư thiết bị, phần mềm để quản trị hành trình, khách hàng và vận đơn hàng hóa, tích hợp thanh toán tự động không dừng; HTX thương mại đầu tư mở rộng kho và cửa hàng, thiết bị ứng dụng phần mềm bán hàng, quản lý nhập, xuất hàng hóa; Ngân hàng HTX và các Quỹ tín dụng nhân dân đẩy mạnh chuyển đổi số trong tổ chức hoạt động, cung ứng dịch vụ.

(3) Nhiều HTX, LHHTX thực hiện chuyển đổi số làm thay đổi hoạt động so với phương thức quản trị truyền thống; nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động. Các HTX, LHHTX có tiến bộ về nhận thức chuyển đổi số trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, đầu tư thiết bị hạ tầng và ứng dụng công nghệ thông tin đầu vào, đầu ra, giảm thời gian tìm kiếm thông tin trên nền tảng số, tiết kiệm không gian lưu trữ và chi phí quản lý, nâng cao hiệu suất làm việc. Theo khảo sát đến cuối tháng 6/2022 do Liên minh HTX cấp tỉnh thực hiện, có 83,5% số HTX được khảo sát cho rằng, việc chuyển đổi số là cần thiết, 18,9% HTX đã có kế hoạch chuyển đổi số, 68% HTX sử dụng ít nhất một trong các phương thức giới thiệu và bán hàng trực tuyến.

1.3. Tồn tại, yếu kém và nguyên nhân

(1) Quá trình chuyển đổi số của các HTX, LHHTX diễn ra chậm; theo khảo sát của Liên minh HTX cấp tỉnh, khoảng 50% số HTX được khảo sát chưa có định hướng và kế hoạch chuyển đổi số; cán bộ quản trị ở nhiều HTX chưa quyết tâm, chưa tuyên truyền, lan tỏa được tới thành viên về lợi ích của chuyển đổi số là nhu cầu tất yếu, mang lại hiệu quả và năng lực cạnh tranh.

(2) Cơ sở hạ tầng thông tin của phần lớn HTX ở mức thấp, lạc hậu, chưa đáp ứng yêu cầu của quá trình chuyển đổi số; nhiều HTX chưa có trụ sở làm việc, cán bộ quản trị và nhân lực của HTX hiểu và thực hành kỹ năng số còn hạn chế như: Kỹ năng xây dựng cơ sở dữ liệu, kỹ năng sử dụng thiết bị số, kỹ năng tìm kiếm, đánh giá và quản trị thông tin trên thiết bị số, kỹ năng sử dụng phần mềm trong quá trình sản xuất, kỹ năng truyền thông số (thông qua website, các trang thương mại điện tử, mạng xã hội), kỹ năng thương mại điện tử; kỹ năng thanh toán điện tử,…

(3) Việc ứng dụng các phần mềm tiện ích chưa được chú trọng; ứng dụng công nghệ số trong tìm kiếm, phân tích và dự báo thị trường còn nhiều hạn chế; thanh toán điện tử chiếm tỷ lệ thấp trong các HTX ở vùng sâu, vùng xa, quản trị tài sản bằng sổ giấy.

(4) Việc số hóa dữ liệu của phần lớn HTX, LHHTX ở mức độ thấp (số hoá thông tin, tài liệu, chứng từ, sổ sách,… ); chưa có khả năng chuyển các hoạt động quản trị sản xuất, kinh doanh lên không gian mạng, từ môi trường truyền thống lên môi trường số để chuyển đổi mô hình hoạt động dựa trên công nghệ số, dữ liệu số.

Nguyên nhân: (1) Tỷ lệ lớn HTX, nhất là lĩnh vực nông nghiệp có quy mô nhỏ và siêu nhỏ, sản xuất và tiêu thụ sản phẩm còn theo mô hình truyền thống, chưa thấy được nhu cầu cấp bách về chuyển đổi số; (2) Nhận thức của cán bộ quản trị và thành viên của nhiều HTX, LHHTX về chuyển đổi số còn hạn chế; thiếu nguồn lực và điều kiện cơ bản để chuyển đổi số như hạ tầng thông tin, tài chính và nhân lực có kỹ năng chuyển đổi số; (3) Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 03/6/2020 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt “Chương trình chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030” chưa quy định cụ thể đối tượng áp dụng và thụ hưởng chính sách là HTX, LHHTX; cơ sở dữ liệu của các ngành, lĩnh vực (nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ) trên phạm vi toàn quốc và địa phương chưa được thu thập đồng bộ và chưa được công khai để HTX, LHHTX tiếp cận và sử dụng.

  1. Đề xuất, kiến nghị

Chuyển đổi số là nhu cầu tất yếu và động lực phát triển của các HTX, LHHTX. Bên cạnh việc tự huy động nguồn lực để thực hiện chuyển đổi số, đảm bảo tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm, nâng cao năng lực quản trị và cạnh tranh; các HTX, LHHTX đề xuất, kiến nghị với các cơ quan Nhà nước, cấp ủy và chính quyền địa phương như sau:

(1) Thể chế hoá chủ trương tại Nghị quyết số 20-NQ/TW 16/6/2022 Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể trong giai đoạn mới “Hỗ trợ các tổ chức kinh tế tập thể đẩy nhanh quá trình chuyển đổi số” trong Luật HTX (sửa đổi) và Chương trình tổng thể về phát triển kinh tế tập thể trên phạm vi toàn quốc, có quy định cụ thể để các tổ chức kinh tế tập thể tiếp cận, thụ hưởng các nguồn lực hỗ trợ chuyển đổi số.

(2) Xây dựng và tạo điều kiện cho các HTX, LHHTX tiếp cận và sử dụng cơ sở dữ liệu của ngành, lĩnh vực trong nền kinh tế – xã hội để xây dựng, áp dụng các ứng dụng chuyển đổi số phục vụ sản xuất, kinh doanh.

(3) Ban hành hướng dẫn về chuyển đổi số cho các HTX, LHHTX theo ngành, lĩnh vực mà các bộ, ngành, địa phương quản lý trên cơ sở nhiệm vụ đã được phân công thực hiện tại Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 03/6/2022 của Thủ tướng Chính phủ như: Công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức về công nghệ số, kinh tế số và chuyển đổi số cho các HTX, LHHTX và thành viên; đào tạo, tập huấn về công nghệ thông tin; kiến thức và các kỹ năng chuyển đổi số; giải pháp chuyển đổi số đối với các loại hình HTX, LHHTX; hỗ trợ thiết bị cơ bản phục vụ chuyển đổi số; hỗ trợ nhân lực lao động trẻ có chuyên môn về làm việc có thời hạn tại HTX, LHHTX…

(4) Bổ sung HTX, LHHTX là đơn vị tham gia Chương trình Thương hiệu quốc gia Việt Nam theo Quyết định số 1320/QĐ-TTg ngày 08/10/2019 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình Thương hiệu quốc gia Việt Nam từ năm 2020 đến năm 2030, tạo điều kiện cho HTX, LHHTX tiếp cận nguồn lực này.

(5) Xây dựng, công khai và tổ chức thực hiện các quy hoạch cụ thể chuỗi giá trị đối với các sản phẩm nông sản chủ lực quốc gia, cấp tỉnh, gắn với ứng dụng công nghệ cao, chuyển đổi số; cùng với đó là ban hành chính sách để huy động các nguồn lực hỗ trợ cho các thành phần kinh tế trong các chuỗi giá trị nông sản như tiền thuê đất, góp vốn bằng quyền sử dụng đất, tín dụng, thuế, bảo hiểm cây trồng và vật nuôi, chuyển đổi số, đào tạo nguồn nhân lực, đầu tư cơ sở hạ tầng sản xuất và thông tin, truy xuất nguồn gốc, xây dựng thương hiệu…

(6) Xem xét, cấp bổ sung vốn điều lệ cho Quỹ Hỗ trợ phát triển HTX Việt Nam và Quỹ Hỗ trợ phát triển HTX cấp tỉnh theo quy định tại Nghị định số 45/2021/NĐ-CP ngày 31/3/2021 của Chính phủ về thành lập, tổ chức và hoạt động của Quỹ Hỗ trợ phát triển HTX, để có nguồn vốn cho vay hỗ trợ HTX, LHHTX thực hiện chuyển đổi số, mở rộng quy mô và nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh; đến nay Bộ Tài chính, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội đã ban hành các Thông tư hướng dẫn thực hiện Nghị định số 45/2021/NĐ-CP, đủ hành lang pháp lý để các tỉnh, thành phố thành lập và hoạt động Quỹ Hỗ trợ phát triển HTX.

 Lê Huy

Nguồn: VCA

‘Kích hoạt’ chuyển đổi số trong hợp tác xã

Nhiều hợp tác xã (HTX) đã tiếp cận chuyển đổi theo mô hình HTX kiểu mới, linh hoạt, ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, thích ứng với nhu cầu thị trường. Tuy nhiên, chuyển đổi số tại các HTX muốn thành công cần thay đổi tư duy từ sản xuất truyền thống sang ứng dụng công nghệ; đồng thời phù hợp với từng HTX về cơ sở hạ tầng, trình độ nhân lực…

HTX Cao nguyên Coffee (Kon Tum) quảng bá sản phẩm rau, củ, quả sản xuất theo công nghệ Nhật Bản – Ảnh: VGP

Dự kiến, ngày mai (23/9), Thủ tướng Chính phủ sẽ chủ trì Diễn đàn Kinh tế hợp tác, hợp tác xã năm 2022 với chủ đề “Chuyển đổi số – Động lực phát triển kinh tế hợp tác, hợp tác xã trong kỷ nguyên mới”.

Đây là diễn đàn đối thoại giữa Chính phủ và cộng đồng khu vực kinh tế tập thể, HTX. Tại Diễn đàn, đại diện các hiệp hội, doanh nghiệp, HTX, liên hiệp HTX sẽ cùng trao đổi những vấn đề mới trong phát triển kinh tế hợp tác, HTX, nhất là về chuyển đổi số cũng như nhận diện rõ hơn các cơ hội, thách thức và đề ra các giải pháp để chuyển đổi số mạnh và nhanh trong phát triển kinh tế hợp tác, hợp tác xã.

Chuyển đổi số được đánh giá là đòn bẩy quan trọng, tạo ra những cơ hội giúp khu vực kinh tế tập thể, HTX phát triển. Theo khảo sát của Liên minh Hợp tác xã Việt Nam, 83,5% HTX đánh giá việc chuyển đổi số là cần thiết; 18,9% HTX đã có kế hoạch với lộ trình thực hiện cụ thể; 68% HTX có sử dụng ít nhất một trong các phương thức giới thiệu và bán sản phẩm trực tuyến…

Đặc biệt, nhiều HTX đã ứng dụng công nghệ cao để sản xuất, kiểm soát chất lượng đầu ra, tăng năng suất cây trồng, vật nuôi. Tiêu biểu như HTX Thành Công (Quảng Trị) với công nghệ làm mát tự động trong chăn nuôi lợn, trồng rau thủy canh; mô hình “cây xoài nhà tôi” tại tỉnh Đồng Tháp đã ứng dụng CNTT giúp kết nối HTX với khách hàng; HTX Nông ngư 14/10 (Sóc Trăng) nuôi tôm sạch theo tiêu chuẩn ASC với sản lượng 160 tấn, xuất khẩu sang châu Âu…

Việc chuyển đổi số hoạt động sản xuất, kinh doanh bước đầu đã làm thay đổi tổ chức và quản trị hoạt động của HTX so với phương thức quản lý truyền thống; nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của HTX. Phần lớn các HTX đã nhận thức về tầm quan trọng của chuyển đổi số đối với tổ chức hoạt động và sự phát triển (đặc biệt trong và sau dịch bệnh COVID-19); xây dựng chiến lược, kế hoạch cụ thể về chuyển đổi số (từ 3 – 5 năm) và xác định những nền tảng cần có theo những nét đặc trưng của HTX.

Thực tế cho thấy, việc ứng dụng công nghệ 4.0, khoa học kỹ thuật tiên tiến trong quản lý vận hành và tiêu thụ sản phẩm đã và đang mang lại nhiều lợi ích cho các HTX. Tuy nhiên, công cuộc chuyển đổi số trong khu vực kinh tế tập thể vẫn còn không ít khó khăn. Kết quả khảo sát các HTX cũng cho thấy còn hơn 50% HTX chưa có định hướng về chuyển đổi số, trong đó, 37,5% HTX có chủ trương, quyết tâm nhưng không biết phải bắt đầu từ đâu và 18,9% HTX chưa xây dựng kế hoạch về chuyển đổi số.

Tránh lệch pha giữa công nghệ và khả năng vận dụng

Ông Nguyễn Ngọc Bảo, Chủ tịch Liên minh Hợp tác xã Việt Nam cho biết, chuyển đổi số tại các HTX vẫn còn chậm và gặp nhiều khó khăn bởi ba nguồn lực quan trọng trong hoạt động sản xuất kinh doanh đồng thời là điều kiện nền tảng để thực hiện chuyển đổi số và ứng dụng công nghệ thông tin tại các HTX nông nghiệp gồm tài chính, cơ sở hạ tầng và nhân lực đều hạn chế.

Trong đó, phần lớn các HTX nông nghiệp đang gặp khó khăn về vốn trong kinh doanh, khó bố trí nguồn lực tài chính đầu tư vào đổi mới, ứng dụng công nghệ, kỹ thuật; mức độ sẵn sàng và khả năng tiếp cận công nghệ của cán bộ quản lý, thành viên HTX đều ở mức dưới trung bình do trình độ thấp, độ tuổi trung bình cao và tâm lý ngại thay đổi; cơ sở vật chất từ nhà xưởng đến trang thiết bị phục vụ chuyển đổi số còn lạc hậu do HTX không có tài chính để đầu tư.

Bên cạnh đó, vẫn còn thiếu những quy định, cơ chế thực hiện chính sách hỗ trợ, ưu đãi đặc thù áp dụng cho đối tượng đặc thù HTX liên quan đến chuyển đổi số. Các HTX khó khăn trong việc tiếp cận nguồn vốn đầu tư phát triển và thông tin liên quan đến chuyển đổi số: Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 3/6/2020 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt “Chương trình chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030” chưa điều chỉnh đối tượng HTX.

Ông Nguyễn Ngọc Bảo cho rằng, một trong bài học kinh nghiệm được rút ra trong thời gian qua, đó là chuyển đổi số cần phù hợp với từng HTX về cơ sở hạ tầng, trình độ nhân lực…, tránh “lệch pha” giữa công nghệ và khả năng vận dụng.

Để chuyển đổi số thành công, vấn đề cốt lõi là thay đổi nhận thức của các thành viên của HTX. Khi các HTX nhìn nhận đúng vai trò, ý nghĩa của việc ứng dụng công nghệ 4.0 vào quản lý sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, thì sẽ có sự quan tâm, đầu tư đúng mức, thay đổi mô hình quản trị.

Tuy nhiên, hiện nay, tỉ lệ thành viên HTX có chuyên môn cao về sản xuất, chế biến nông sản, biết sử dụng, vận hành các thiết bị (tự động, số, thiết bị phân tích…) rất hạn chế, bởi chủ yếu là nông dân, chưa được đào tạo chuyên môn bài bản, trình độ chủ yếu ở mức tiểu học và trung học cơ sở.

Theo kết quả khảo sát, mức độ hiểu biết và kỹ năng số của thành viên HTX đạt mức trung bình, mức độ sẵn sàng tham gia vào quá trình chuyển đổi số hạn chế, năng lực chuyển đổi số của thành viên HTX vẫn ở mức độ dưới trung bình; nhân lực phục vụ chuyển đổi số và áp dụng công nghệ thông tin tại các HTX còn nhiều hạn chế về năng lực.

Chính vì thế, đầu tiên, các HTX, đặc biệt là lãnh đạo HTX cần được tăng cường đào tạo, nâng cao năng lực quản trị. Các thành viên HTX cũng cần được tuyên truyền để thay đổi tư duy từ cạnh tranh sang hợp tác, liên kết chặt chẽ với nhau.

Ngoài ra, một trong những giải pháp quan trọng để “kích hoạt” chuyển đổi số tại các HTX trong thời gian tới, đó là xây dựng hệ thống dữ liệu lớn của ngành nông nghiệp. Trong đó, chú trọng xây dựng các hệ thống dữ liệu lớn của ngành như đất đai, cây trồng, vật nuôi, thủy sản…

Theo đó thiết lập mạng lưới quan sát, giám sát tích hợp trên không và mặt đất phục vụ các hoạt động nông nghiệp; thúc đẩy cung cấp thông tin về môi trường, thời tiết, chất lượng đất đai, ứng dụng bản đồ tra cứu thông tin thổ nhưỡng, thủy văn, sản lượng nông sản, thủy sản trên cả nước và chi tiết từng tỉnh, thành phố… để người nông dân có thể tra cứu và áp dụng nâng cao năng suất và chất lượng cây trồng.

Hệ thống cơ sở dữ liệu của ngành nông nghiệp cấp Trung ương và địa phương được hoàn thiện sẽ là nguồn dữ liệu quan trọng để xây dựng, áp dụng các ứng dụng chuyển đổi số và công nghệ thông tin tại các HTX nông nghiệp.

Liên minh Hợp tác xã Việt Nam mong muốn Chính phủ, các bộ, ngành, cơ quan trung ương dành nhiều sự quan tâm hơn tới các HTX nói chung và trong quá trình chuyển đổi số nói riêng, xây dựng những cơ chế, chính sách, chương trình hỗ trợ về nguồn nhân lực, tài chính trong quá trình thực hiện chuyển đổi số, hạ tầng thiết bị cơ bản phục vụ chuyển đổi số, hỗ trợ HTX sử dụng một số nền tảng ứng dụng chuyển đổi số (trong hoạt động quản lý, sản xuất, thương mại hóa sản phẩm), hỗ trợ thành lập HTX cung ứng dịch vụ công nghệ cao ở các địa phương,… hướng dẫn cụ thể, thiết thực hơn nữa, phù hợp với mô hình tổ chức sản xuất, kinh doanh của HTX, giúp HTX có thể áp dụng hiệu quả hơn những hạng mục trong quá trình chuyển đổi số.

Nhà nước có thể đầu tư, xây dựng một nền tảng hệ sinh thái số dùng chung cho các HTX để hỗ trợ chi phí đầu tư ban đầu, giúp HTX tận dụng, tiếp cận đúng hướng, nhanh và hiệu quả hơn với quá trình chuyển đổi số…

Hoàng Giang/ CTV Báo Chính phủ

Thúc đẩy chuyển đổi số khu vực kinh tế tập thể, hợp tác xã

Thủ tướng nhấn mạnh: “Diễn đàn Kinh tế hợp tác, hợp tác xã năm 2022” được tổ chức để đánh giá những kết quả đạt được trong chuyển đổi số quốc gia nói chung và chuyển đổi số khu vực kinh tế tập thể, hợp tác xã nói riêng; đồng thời thẳng thắn nhìn nhận những vấn đề đang đặt ra hiện nay để có các giải pháp phù hợp thúc đẩy chuyển đổi số…
Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính phát biểu khai mạc Diễn đàn. Ảnh: TTXVN.

Sáng 23/9, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính chủ trì Diễn đàn Kinh tế hợp tác, hợp tác xã năm 2022 với chủ đề “Chuyển đổi số – Động lực phát triển kinh tế hợp tác, hợp tác xã trong kỷ nguyên mới gắn với thực hiện Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 16/6/2022. Diễn đàn được tổ chức theo hình thức trực tiếp tại Trụ sở Chính phủ, kết hợp trực tuyến tại điểm cầu 63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.

Dự diễn đàn tại đầu cầu Trụ sở Chính phủ có các Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Khái; các Bộ trưởng, Thủ trưởng các cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ; lãnh đạo các ban, bộ, ngành Trung ương; đại diện các tổ chức quốc tế, các chuyên gia, nhà khoa học; đặc biệt là các tổ chức kinh tế hợp tác, doanh nghiệp liên kết.
Mở đầu diễn đàn, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính cho biết, diễn đàn này có ý nghĩa truyền tải thông điệp của tinh thần đổi mới, sáng tạo, đột phá đối với mô hình kinh tế tập thể là thành phần kinh tế quan trọng. Tinh thần đổi mới bao gồm thay đổi tư duy nhận thức và hành động để thay đổi phương thức hoạt động, quản lý sự thay đổi gắn với chuyển đổi số để tạo ra những giá trị mới, chuyển đổi mô hình kinh tế tập thể một cách linh hoạt, phù hợp đạt hiệu quả cao, tiết giảm chi phí, tối ưu nguồn lực.
Theo Thủ tướng, chuyển đổi số là xu thế tất yếu, đòi hỏi khách quan của sự phát triển và được xác định là yêu cầu bắt buộc. Chuyển đổi số giúp giải quyết hiệu quả mối quan hệ giữa Nhà nước, thị trường, xã hội; thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, nâng cao năng suất lao động, năng lực cạnh tranh, hiệu quả sản xuất kinh doanh, giảm chi phí cho người dân, doanh nghiệp, đồng thời giúp các cấp, ngành thay đổi phương thức và nâng cao năng lực quản lý điều hành. Ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số là phù hợp với phẩm chất, năng lực con người Việt Nam cần cù, ham học hỏi, linh hoạt, và sáng tạo.
Chuyển đổi số là chủ trương, định hướng lớn của Đảng và Nhà nước, là công việc phải thường xuyên, liên tục theo dõi, đánh giá, đôn đốc, chỉ đạo sát sao và quyết liệt triển khai. Cùng với đó, phát triển khu vực kinh tế tập thể luôn được Đảng, Nhà nước và cả các đối tác phát triển quan tâm. Phát triển kinh tế tập thể là xu thế tất yếu trong bối cảnh hội nhập quốc tế, phù hợp với kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Thủ tướng cho biết, Nghị quyết 20-NQ/TW tại Hội nghị lần thứ 5 của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII nêu rõ quan điểm: “Kinh tế tập thể là thành phần kinh tế quan trọng, phải được củng cố và phát triển cùng kinh tế nhà nước trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân”.
Thời gian qua, khu vực kinh tế tập thể nước ta đã có nhiều chuyển biến tích cực về cả nhận thức, chính sách, pháp luật, quá trình phát triển và chuyển đổi về số lượng, quy mô, cơ cấu tổ chức, tính liên kết, hiệu quả hoạt động.
Tuy nhiên, khu vực kinh tế tập thể của nước ta đến nay chưa phát triển như mục tiêu, yêu cầu. Đổi mới và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể còn nhiều khó khăn. Năng lực nội tại của hợp tác xã còn yếu, hiệu quả hoạt động chưa cao, mô hình tổ chức lỏng lẻo, chưa phù hợp, trình độ cán bộ quản lý hợp tác xã còn hạn chế mà một trong những nguyên nhân là chuyển đổi số còn chậm và thiếu chiến lược, hành động cụ thể.
Chính vì vậy, kinh tế hợp tác, hợp tác xã phải chủ động thay đổi cơ bản phương thức sản xuất, kinh doanh, chuyển đổi số để thích nghi với tình hình phát triển mới là yêu cầu cấp thiết, không thể đảo ngược.
Người đứng đầu Chính phủ nhấn mạnh, Diễn đàn này được tổ chức để đánh giá những kết quả đạt được trong chuyển đổi số quốc gia nói chung và chuyển đổi số trong khu vực kinh tế tập thể, hợp tác xã nói riêng; đồng thời thẳng thắn nhìn nhận những tồn tại, hạn chế, khó khăn, thách thức và những vấn đề đang đặt ra hiện nay để có các giải pháp phù hợp để thúc đẩy chuyển đổi số trong thời gian tới, tạo động lực cho kinh tế tập thể, hợp tác xã phát triển nhanh và bền vững, gắn với việc cụ thể hóa Nghị quyết số 20 của Trung ương.
PV/ Theo Dangcongsan.vn