Author Archives: inoste

Chuyển đổi số là nhu cầu tất yếu và động lực phát triển của các HTX, LHHTX

Ngày 23/9, tại trụ sở Chính phủ đã diễn ra Diễn đàn kinh tế hợp tác, hợp tác xã năm 2022 với chủ đề “Chuyển đổi số – Động lực phát triển KTHT, HTX xã trong kỷ nguyên mới gắn với Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 16/6/2022”. Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính chủ trì và chỉ đạo Diễn đàn.

Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính phát biểu chỉ đạo tại Diễn đàn

Diễn đàn được tổ chức theo hình thức trực tiếp tại Trụ sở Chính phủ, kết hợp trực tuyến tại điểm cầu 63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.

Dự diễn đàn tại đầu cầu Trụ sở Chính phủ có các Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Khái; các Bộ trưởng, Thủ trưởng các cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ; lãnh đạo các Ban, bộ, ngành Trung ương; đại diện các tổ chức quốc tế, các chuyên gia, nhà khoa học; đặc biệt là các tổ chức kinh tế hợp tác, doanh nghiệp liên kết.

Đồng chí Nguyễn Ngọc Bảo, Bí thư Đảng đoàn, Chủ tịch Liên minh Hợp tác xã Việt Nam phát biểu tại Diễn đàn

Đại diện Liên minh Hợp tác xã Việt Nam, đồng chí Nguyễn Ngọc Bảo, Bí thư Đảng đoàn, Chủ tịch Liên minh Hợp tác xã Việt Nam dự Diễn đàn và có bài phát biểu tham luận về Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị của các hợp tác xã và liên hiệp hợp tác xã trong chuyển đổi số. 

Cổng thông tin điện tử Liên minh Hợp tác xã Việt Nam xin đăng toàn văn bài phát biểu quan trọng này:

Đối với hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã, chuyển đổi số là quá trình ứng dụng công nghệ số và sử dụng cơ sở dữ liệu làm thay đổi mô hình kinh doanh, nhằm giảm chi phí, tiếp cận tối đa khách hàng, tăng năng suất và hiệu quả sản xuất, kinh doanh, mang lại lợi ích cho thành viên.

  1. Tình hình phục hồi và phát triển sản xuất, kinh doanh, chuyển đổi số của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã

1.1. Sáu tháng đầu năm 2022, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã, kể cả tổ hợp tác phục hồi và phát triển sản xuất, kinh doanh, đóng góp tích cực cho ổn định giá cả, tăng trưởng kinh tế, tạo việc làm, ổn định xã hội: Số lượng hợp tác xã (HTX), liên hiệp HTX (LHHTX), tổ hợp tác (THT) thành lập mới và hộ cá thể, cá nhân tham gia thành viên tăng khá ở hầu hết các tỉnh, thành phố, nhất là lĩnh vực nông nghiệp và địa bàn nông thôn (thành lập mới 756 HTX, 11.050 THT, 12 LHHTX); HTX, LHHTX, THT tăng số lượng và giá trị dịch vụ cung ứng cho thành viên, tạo việc làm cho thành viên và người lao động, doanh thu của HTX tăng bình quân 5,6% so với cùng kỳ năm 2021, HTX vận tải, thương mại và tín dụng đạt doanh thu ở mức cao; phần lớn HTX, LHHTX có lãi nhưng không cao do chi phí đầu vào tăng; thu nhập của thành viên HTX phi nông nghiệp tăng 6% so với cùng kỳ năm 2021. Sự phục hồi và phát triển sản xuất, kinh doanh của   HTX, LHHTX có nhiều nguyên nhân, trong đó: (1) Nhiều HTX, LHHTX đã tiếp cận và thụ hưởng chính sách hỗ trợ của Nhà nước trong Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế – xã hội về giảm tiền thuê đất, gia hạn thuế thu nhập doanh nghiệp, giảm thuế giá trị gia tăng, cơ cấu lại nợ tại các tổ chức tín dụng, vay vốn ưu đãi của Quỹ Hỗ trợ phát triển HTX trực thuộc hệ thống Liên minh HTX Việt Nam; hỗ trợ từ Quỹ Bảo hiểm thất nghiệp; (2) HTX, LHHTX đang từng bước thực hiện chuyển đổi số trong cung ứng đầu vào, canh tác, chế biến, truy xuất nguồn gốc, xây dựng thương hiệu, đa dạng hoá kênh tiêu thụ sản phẩm trong nước và xuất khẩu.

1.2. Một số kết quả đạt được về chuyển đổi số của HTX, LHHTX

(1) Nhiều HTX, LHHTX sử dụng các nền tảng ứng dụng công nghệ thông tin, phần mềm quản trị dữ liệu bằng các tệp máy tính có định dạng, trao đổi thông tin, quản trị hoạt động đầu vào, đầu ra,…; truy xuất thông tin, nguồn gốc sản phẩm; sử dụng hóa đơn điện tử trong hoạt động thanh toán. 65% số HTX được khảo sát vào tháng 6/2022 do Liên minh HTX cấp tỉnh thực hiện đã sử dụng công nghệ số ở mức độ khác nhau để quản trị hoạt động sản xuất, kinh doanh. Nhiều HTX, LHHTX ở lĩnh vực nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ ứng dụng công nghệ số mang lại hiệu quả do cán bộ có trình độ, sẵn sàng tiếp cận công nghệ mới, liên kết chuỗi giá trị và được Nhà nước, các tổ chức ở trong, ngoài nước hỗ trợ.

(2) Nhiều HTX, LHHTX nông nghiệp, công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp áp dụng công nghệ cao (tưới nhỏ giọt, lò sấy trống, chế biến cà phê ướt,…), sản xuất sản phẩm có thương hiệu (OCOP, hữu cơ, GlobalGap,…), tiêu thụ sản phẩm thông qua thương mại điện tử (Facebook, Zalo, Fanpage, Group, Shopee, Sendo, Tiki, Voso, Postmart,… ), Sàn bán hàng điện tử của Liên minh HTX Việt Nam. HTX vận tải đầu tư thiết bị, phần mềm để quản trị hành trình, khách hàng và vận đơn hàng hóa, tích hợp thanh toán tự động không dừng; HTX thương mại đầu tư mở rộng kho và cửa hàng, thiết bị ứng dụng phần mềm bán hàng, quản lý nhập, xuất hàng hóa; Ngân hàng HTX và các Quỹ tín dụng nhân dân đẩy mạnh chuyển đổi số trong tổ chức hoạt động, cung ứng dịch vụ.

(3) Nhiều HTX, LHHTX thực hiện chuyển đổi số làm thay đổi hoạt động so với phương thức quản trị truyền thống; nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động. Các HTX, LHHTX có tiến bộ về nhận thức chuyển đổi số trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, đầu tư thiết bị hạ tầng và ứng dụng công nghệ thông tin đầu vào, đầu ra, giảm thời gian tìm kiếm thông tin trên nền tảng số, tiết kiệm không gian lưu trữ và chi phí quản lý, nâng cao hiệu suất làm việc. Theo khảo sát đến cuối tháng 6/2022 do Liên minh HTX cấp tỉnh thực hiện, có 83,5% số HTX được khảo sát cho rằng, việc chuyển đổi số là cần thiết, 18,9% HTX đã có kế hoạch chuyển đổi số, 68% HTX sử dụng ít nhất một trong các phương thức giới thiệu và bán hàng trực tuyến.

1.3. Tồn tại, yếu kém và nguyên nhân

(1) Quá trình chuyển đổi số của các HTX, LHHTX diễn ra chậm; theo khảo sát của Liên minh HTX cấp tỉnh, khoảng 50% số HTX được khảo sát chưa có định hướng và kế hoạch chuyển đổi số; cán bộ quản trị ở nhiều HTX chưa quyết tâm, chưa tuyên truyền, lan tỏa được tới thành viên về lợi ích của chuyển đổi số là nhu cầu tất yếu, mang lại hiệu quả và năng lực cạnh tranh.

(2) Cơ sở hạ tầng thông tin của phần lớn HTX ở mức thấp, lạc hậu, chưa đáp ứng yêu cầu của quá trình chuyển đổi số; nhiều HTX chưa có trụ sở làm việc, cán bộ quản trị và nhân lực của HTX hiểu và thực hành kỹ năng số còn hạn chế như: Kỹ năng xây dựng cơ sở dữ liệu, kỹ năng sử dụng thiết bị số, kỹ năng tìm kiếm, đánh giá và quản trị thông tin trên thiết bị số, kỹ năng sử dụng phần mềm trong quá trình sản xuất, kỹ năng truyền thông số (thông qua website, các trang thương mại điện tử, mạng xã hội), kỹ năng thương mại điện tử; kỹ năng thanh toán điện tử,…

(3) Việc ứng dụng các phần mềm tiện ích chưa được chú trọng; ứng dụng công nghệ số trong tìm kiếm, phân tích và dự báo thị trường còn nhiều hạn chế; thanh toán điện tử chiếm tỷ lệ thấp trong các HTX ở vùng sâu, vùng xa, quản trị tài sản bằng sổ giấy.

(4) Việc số hóa dữ liệu của phần lớn HTX, LHHTX ở mức độ thấp (số hoá thông tin, tài liệu, chứng từ, sổ sách,… ); chưa có khả năng chuyển các hoạt động quản trị sản xuất, kinh doanh lên không gian mạng, từ môi trường truyền thống lên môi trường số để chuyển đổi mô hình hoạt động dựa trên công nghệ số, dữ liệu số.

Nguyên nhân: (1) Tỷ lệ lớn HTX, nhất là lĩnh vực nông nghiệp có quy mô nhỏ và siêu nhỏ, sản xuất và tiêu thụ sản phẩm còn theo mô hình truyền thống, chưa thấy được nhu cầu cấp bách về chuyển đổi số; (2) Nhận thức của cán bộ quản trị và thành viên của nhiều HTX, LHHTX về chuyển đổi số còn hạn chế; thiếu nguồn lực và điều kiện cơ bản để chuyển đổi số như hạ tầng thông tin, tài chính và nhân lực có kỹ năng chuyển đổi số; (3) Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 03/6/2020 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt “Chương trình chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030” chưa quy định cụ thể đối tượng áp dụng và thụ hưởng chính sách là HTX, LHHTX; cơ sở dữ liệu của các ngành, lĩnh vực (nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ) trên phạm vi toàn quốc và địa phương chưa được thu thập đồng bộ và chưa được công khai để HTX, LHHTX tiếp cận và sử dụng.

  1. Đề xuất, kiến nghị

Chuyển đổi số là nhu cầu tất yếu và động lực phát triển của các HTX, LHHTX. Bên cạnh việc tự huy động nguồn lực để thực hiện chuyển đổi số, đảm bảo tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm, nâng cao năng lực quản trị và cạnh tranh; các HTX, LHHTX đề xuất, kiến nghị với các cơ quan Nhà nước, cấp ủy và chính quyền địa phương như sau:

(1) Thể chế hoá chủ trương tại Nghị quyết số 20-NQ/TW 16/6/2022 Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể trong giai đoạn mới “Hỗ trợ các tổ chức kinh tế tập thể đẩy nhanh quá trình chuyển đổi số” trong Luật HTX (sửa đổi) và Chương trình tổng thể về phát triển kinh tế tập thể trên phạm vi toàn quốc, có quy định cụ thể để các tổ chức kinh tế tập thể tiếp cận, thụ hưởng các nguồn lực hỗ trợ chuyển đổi số.

(2) Xây dựng và tạo điều kiện cho các HTX, LHHTX tiếp cận và sử dụng cơ sở dữ liệu của ngành, lĩnh vực trong nền kinh tế – xã hội để xây dựng, áp dụng các ứng dụng chuyển đổi số phục vụ sản xuất, kinh doanh.

(3) Ban hành hướng dẫn về chuyển đổi số cho các HTX, LHHTX theo ngành, lĩnh vực mà các bộ, ngành, địa phương quản lý trên cơ sở nhiệm vụ đã được phân công thực hiện tại Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 03/6/2022 của Thủ tướng Chính phủ như: Công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức về công nghệ số, kinh tế số và chuyển đổi số cho các HTX, LHHTX và thành viên; đào tạo, tập huấn về công nghệ thông tin; kiến thức và các kỹ năng chuyển đổi số; giải pháp chuyển đổi số đối với các loại hình HTX, LHHTX; hỗ trợ thiết bị cơ bản phục vụ chuyển đổi số; hỗ trợ nhân lực lao động trẻ có chuyên môn về làm việc có thời hạn tại HTX, LHHTX…

(4) Bổ sung HTX, LHHTX là đơn vị tham gia Chương trình Thương hiệu quốc gia Việt Nam theo Quyết định số 1320/QĐ-TTg ngày 08/10/2019 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình Thương hiệu quốc gia Việt Nam từ năm 2020 đến năm 2030, tạo điều kiện cho HTX, LHHTX tiếp cận nguồn lực này.

(5) Xây dựng, công khai và tổ chức thực hiện các quy hoạch cụ thể chuỗi giá trị đối với các sản phẩm nông sản chủ lực quốc gia, cấp tỉnh, gắn với ứng dụng công nghệ cao, chuyển đổi số; cùng với đó là ban hành chính sách để huy động các nguồn lực hỗ trợ cho các thành phần kinh tế trong các chuỗi giá trị nông sản như tiền thuê đất, góp vốn bằng quyền sử dụng đất, tín dụng, thuế, bảo hiểm cây trồng và vật nuôi, chuyển đổi số, đào tạo nguồn nhân lực, đầu tư cơ sở hạ tầng sản xuất và thông tin, truy xuất nguồn gốc, xây dựng thương hiệu…

(6) Xem xét, cấp bổ sung vốn điều lệ cho Quỹ Hỗ trợ phát triển HTX Việt Nam và Quỹ Hỗ trợ phát triển HTX cấp tỉnh theo quy định tại Nghị định số 45/2021/NĐ-CP ngày 31/3/2021 của Chính phủ về thành lập, tổ chức và hoạt động của Quỹ Hỗ trợ phát triển HTX, để có nguồn vốn cho vay hỗ trợ HTX, LHHTX thực hiện chuyển đổi số, mở rộng quy mô và nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh; đến nay Bộ Tài chính, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội đã ban hành các Thông tư hướng dẫn thực hiện Nghị định số 45/2021/NĐ-CP, đủ hành lang pháp lý để các tỉnh, thành phố thành lập và hoạt động Quỹ Hỗ trợ phát triển HTX.

 Lê Huy

Nguồn: VCA

‘Kích hoạt’ chuyển đổi số trong hợp tác xã

Nhiều hợp tác xã (HTX) đã tiếp cận chuyển đổi theo mô hình HTX kiểu mới, linh hoạt, ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, thích ứng với nhu cầu thị trường. Tuy nhiên, chuyển đổi số tại các HTX muốn thành công cần thay đổi tư duy từ sản xuất truyền thống sang ứng dụng công nghệ; đồng thời phù hợp với từng HTX về cơ sở hạ tầng, trình độ nhân lực…

HTX Cao nguyên Coffee (Kon Tum) quảng bá sản phẩm rau, củ, quả sản xuất theo công nghệ Nhật Bản – Ảnh: VGP

Dự kiến, ngày mai (23/9), Thủ tướng Chính phủ sẽ chủ trì Diễn đàn Kinh tế hợp tác, hợp tác xã năm 2022 với chủ đề “Chuyển đổi số – Động lực phát triển kinh tế hợp tác, hợp tác xã trong kỷ nguyên mới”.

Đây là diễn đàn đối thoại giữa Chính phủ và cộng đồng khu vực kinh tế tập thể, HTX. Tại Diễn đàn, đại diện các hiệp hội, doanh nghiệp, HTX, liên hiệp HTX sẽ cùng trao đổi những vấn đề mới trong phát triển kinh tế hợp tác, HTX, nhất là về chuyển đổi số cũng như nhận diện rõ hơn các cơ hội, thách thức và đề ra các giải pháp để chuyển đổi số mạnh và nhanh trong phát triển kinh tế hợp tác, hợp tác xã.

Chuyển đổi số được đánh giá là đòn bẩy quan trọng, tạo ra những cơ hội giúp khu vực kinh tế tập thể, HTX phát triển. Theo khảo sát của Liên minh Hợp tác xã Việt Nam, 83,5% HTX đánh giá việc chuyển đổi số là cần thiết; 18,9% HTX đã có kế hoạch với lộ trình thực hiện cụ thể; 68% HTX có sử dụng ít nhất một trong các phương thức giới thiệu và bán sản phẩm trực tuyến…

Đặc biệt, nhiều HTX đã ứng dụng công nghệ cao để sản xuất, kiểm soát chất lượng đầu ra, tăng năng suất cây trồng, vật nuôi. Tiêu biểu như HTX Thành Công (Quảng Trị) với công nghệ làm mát tự động trong chăn nuôi lợn, trồng rau thủy canh; mô hình “cây xoài nhà tôi” tại tỉnh Đồng Tháp đã ứng dụng CNTT giúp kết nối HTX với khách hàng; HTX Nông ngư 14/10 (Sóc Trăng) nuôi tôm sạch theo tiêu chuẩn ASC với sản lượng 160 tấn, xuất khẩu sang châu Âu…

Việc chuyển đổi số hoạt động sản xuất, kinh doanh bước đầu đã làm thay đổi tổ chức và quản trị hoạt động của HTX so với phương thức quản lý truyền thống; nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của HTX. Phần lớn các HTX đã nhận thức về tầm quan trọng của chuyển đổi số đối với tổ chức hoạt động và sự phát triển (đặc biệt trong và sau dịch bệnh COVID-19); xây dựng chiến lược, kế hoạch cụ thể về chuyển đổi số (từ 3 – 5 năm) và xác định những nền tảng cần có theo những nét đặc trưng của HTX.

Thực tế cho thấy, việc ứng dụng công nghệ 4.0, khoa học kỹ thuật tiên tiến trong quản lý vận hành và tiêu thụ sản phẩm đã và đang mang lại nhiều lợi ích cho các HTX. Tuy nhiên, công cuộc chuyển đổi số trong khu vực kinh tế tập thể vẫn còn không ít khó khăn. Kết quả khảo sát các HTX cũng cho thấy còn hơn 50% HTX chưa có định hướng về chuyển đổi số, trong đó, 37,5% HTX có chủ trương, quyết tâm nhưng không biết phải bắt đầu từ đâu và 18,9% HTX chưa xây dựng kế hoạch về chuyển đổi số.

Tránh lệch pha giữa công nghệ và khả năng vận dụng

Ông Nguyễn Ngọc Bảo, Chủ tịch Liên minh Hợp tác xã Việt Nam cho biết, chuyển đổi số tại các HTX vẫn còn chậm và gặp nhiều khó khăn bởi ba nguồn lực quan trọng trong hoạt động sản xuất kinh doanh đồng thời là điều kiện nền tảng để thực hiện chuyển đổi số và ứng dụng công nghệ thông tin tại các HTX nông nghiệp gồm tài chính, cơ sở hạ tầng và nhân lực đều hạn chế.

Trong đó, phần lớn các HTX nông nghiệp đang gặp khó khăn về vốn trong kinh doanh, khó bố trí nguồn lực tài chính đầu tư vào đổi mới, ứng dụng công nghệ, kỹ thuật; mức độ sẵn sàng và khả năng tiếp cận công nghệ của cán bộ quản lý, thành viên HTX đều ở mức dưới trung bình do trình độ thấp, độ tuổi trung bình cao và tâm lý ngại thay đổi; cơ sở vật chất từ nhà xưởng đến trang thiết bị phục vụ chuyển đổi số còn lạc hậu do HTX không có tài chính để đầu tư.

Bên cạnh đó, vẫn còn thiếu những quy định, cơ chế thực hiện chính sách hỗ trợ, ưu đãi đặc thù áp dụng cho đối tượng đặc thù HTX liên quan đến chuyển đổi số. Các HTX khó khăn trong việc tiếp cận nguồn vốn đầu tư phát triển và thông tin liên quan đến chuyển đổi số: Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 3/6/2020 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt “Chương trình chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030” chưa điều chỉnh đối tượng HTX.

Ông Nguyễn Ngọc Bảo cho rằng, một trong bài học kinh nghiệm được rút ra trong thời gian qua, đó là chuyển đổi số cần phù hợp với từng HTX về cơ sở hạ tầng, trình độ nhân lực…, tránh “lệch pha” giữa công nghệ và khả năng vận dụng.

Để chuyển đổi số thành công, vấn đề cốt lõi là thay đổi nhận thức của các thành viên của HTX. Khi các HTX nhìn nhận đúng vai trò, ý nghĩa của việc ứng dụng công nghệ 4.0 vào quản lý sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, thì sẽ có sự quan tâm, đầu tư đúng mức, thay đổi mô hình quản trị.

Tuy nhiên, hiện nay, tỉ lệ thành viên HTX có chuyên môn cao về sản xuất, chế biến nông sản, biết sử dụng, vận hành các thiết bị (tự động, số, thiết bị phân tích…) rất hạn chế, bởi chủ yếu là nông dân, chưa được đào tạo chuyên môn bài bản, trình độ chủ yếu ở mức tiểu học và trung học cơ sở.

Theo kết quả khảo sát, mức độ hiểu biết và kỹ năng số của thành viên HTX đạt mức trung bình, mức độ sẵn sàng tham gia vào quá trình chuyển đổi số hạn chế, năng lực chuyển đổi số của thành viên HTX vẫn ở mức độ dưới trung bình; nhân lực phục vụ chuyển đổi số và áp dụng công nghệ thông tin tại các HTX còn nhiều hạn chế về năng lực.

Chính vì thế, đầu tiên, các HTX, đặc biệt là lãnh đạo HTX cần được tăng cường đào tạo, nâng cao năng lực quản trị. Các thành viên HTX cũng cần được tuyên truyền để thay đổi tư duy từ cạnh tranh sang hợp tác, liên kết chặt chẽ với nhau.

Ngoài ra, một trong những giải pháp quan trọng để “kích hoạt” chuyển đổi số tại các HTX trong thời gian tới, đó là xây dựng hệ thống dữ liệu lớn của ngành nông nghiệp. Trong đó, chú trọng xây dựng các hệ thống dữ liệu lớn của ngành như đất đai, cây trồng, vật nuôi, thủy sản…

Theo đó thiết lập mạng lưới quan sát, giám sát tích hợp trên không và mặt đất phục vụ các hoạt động nông nghiệp; thúc đẩy cung cấp thông tin về môi trường, thời tiết, chất lượng đất đai, ứng dụng bản đồ tra cứu thông tin thổ nhưỡng, thủy văn, sản lượng nông sản, thủy sản trên cả nước và chi tiết từng tỉnh, thành phố… để người nông dân có thể tra cứu và áp dụng nâng cao năng suất và chất lượng cây trồng.

Hệ thống cơ sở dữ liệu của ngành nông nghiệp cấp Trung ương và địa phương được hoàn thiện sẽ là nguồn dữ liệu quan trọng để xây dựng, áp dụng các ứng dụng chuyển đổi số và công nghệ thông tin tại các HTX nông nghiệp.

Liên minh Hợp tác xã Việt Nam mong muốn Chính phủ, các bộ, ngành, cơ quan trung ương dành nhiều sự quan tâm hơn tới các HTX nói chung và trong quá trình chuyển đổi số nói riêng, xây dựng những cơ chế, chính sách, chương trình hỗ trợ về nguồn nhân lực, tài chính trong quá trình thực hiện chuyển đổi số, hạ tầng thiết bị cơ bản phục vụ chuyển đổi số, hỗ trợ HTX sử dụng một số nền tảng ứng dụng chuyển đổi số (trong hoạt động quản lý, sản xuất, thương mại hóa sản phẩm), hỗ trợ thành lập HTX cung ứng dịch vụ công nghệ cao ở các địa phương,… hướng dẫn cụ thể, thiết thực hơn nữa, phù hợp với mô hình tổ chức sản xuất, kinh doanh của HTX, giúp HTX có thể áp dụng hiệu quả hơn những hạng mục trong quá trình chuyển đổi số.

Nhà nước có thể đầu tư, xây dựng một nền tảng hệ sinh thái số dùng chung cho các HTX để hỗ trợ chi phí đầu tư ban đầu, giúp HTX tận dụng, tiếp cận đúng hướng, nhanh và hiệu quả hơn với quá trình chuyển đổi số…

Hoàng Giang/ CTV Báo Chính phủ

Thúc đẩy chuyển đổi số khu vực kinh tế tập thể, hợp tác xã

Thủ tướng nhấn mạnh: “Diễn đàn Kinh tế hợp tác, hợp tác xã năm 2022” được tổ chức để đánh giá những kết quả đạt được trong chuyển đổi số quốc gia nói chung và chuyển đổi số khu vực kinh tế tập thể, hợp tác xã nói riêng; đồng thời thẳng thắn nhìn nhận những vấn đề đang đặt ra hiện nay để có các giải pháp phù hợp thúc đẩy chuyển đổi số…
Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính phát biểu khai mạc Diễn đàn. Ảnh: TTXVN.

Sáng 23/9, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính chủ trì Diễn đàn Kinh tế hợp tác, hợp tác xã năm 2022 với chủ đề “Chuyển đổi số – Động lực phát triển kinh tế hợp tác, hợp tác xã trong kỷ nguyên mới gắn với thực hiện Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 16/6/2022. Diễn đàn được tổ chức theo hình thức trực tiếp tại Trụ sở Chính phủ, kết hợp trực tuyến tại điểm cầu 63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.

Dự diễn đàn tại đầu cầu Trụ sở Chính phủ có các Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Khái; các Bộ trưởng, Thủ trưởng các cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ; lãnh đạo các ban, bộ, ngành Trung ương; đại diện các tổ chức quốc tế, các chuyên gia, nhà khoa học; đặc biệt là các tổ chức kinh tế hợp tác, doanh nghiệp liên kết.
Mở đầu diễn đàn, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính cho biết, diễn đàn này có ý nghĩa truyền tải thông điệp của tinh thần đổi mới, sáng tạo, đột phá đối với mô hình kinh tế tập thể là thành phần kinh tế quan trọng. Tinh thần đổi mới bao gồm thay đổi tư duy nhận thức và hành động để thay đổi phương thức hoạt động, quản lý sự thay đổi gắn với chuyển đổi số để tạo ra những giá trị mới, chuyển đổi mô hình kinh tế tập thể một cách linh hoạt, phù hợp đạt hiệu quả cao, tiết giảm chi phí, tối ưu nguồn lực.
Theo Thủ tướng, chuyển đổi số là xu thế tất yếu, đòi hỏi khách quan của sự phát triển và được xác định là yêu cầu bắt buộc. Chuyển đổi số giúp giải quyết hiệu quả mối quan hệ giữa Nhà nước, thị trường, xã hội; thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, nâng cao năng suất lao động, năng lực cạnh tranh, hiệu quả sản xuất kinh doanh, giảm chi phí cho người dân, doanh nghiệp, đồng thời giúp các cấp, ngành thay đổi phương thức và nâng cao năng lực quản lý điều hành. Ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số là phù hợp với phẩm chất, năng lực con người Việt Nam cần cù, ham học hỏi, linh hoạt, và sáng tạo.
Chuyển đổi số là chủ trương, định hướng lớn của Đảng và Nhà nước, là công việc phải thường xuyên, liên tục theo dõi, đánh giá, đôn đốc, chỉ đạo sát sao và quyết liệt triển khai. Cùng với đó, phát triển khu vực kinh tế tập thể luôn được Đảng, Nhà nước và cả các đối tác phát triển quan tâm. Phát triển kinh tế tập thể là xu thế tất yếu trong bối cảnh hội nhập quốc tế, phù hợp với kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Thủ tướng cho biết, Nghị quyết 20-NQ/TW tại Hội nghị lần thứ 5 của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII nêu rõ quan điểm: “Kinh tế tập thể là thành phần kinh tế quan trọng, phải được củng cố và phát triển cùng kinh tế nhà nước trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân”.
Thời gian qua, khu vực kinh tế tập thể nước ta đã có nhiều chuyển biến tích cực về cả nhận thức, chính sách, pháp luật, quá trình phát triển và chuyển đổi về số lượng, quy mô, cơ cấu tổ chức, tính liên kết, hiệu quả hoạt động.
Tuy nhiên, khu vực kinh tế tập thể của nước ta đến nay chưa phát triển như mục tiêu, yêu cầu. Đổi mới và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể còn nhiều khó khăn. Năng lực nội tại của hợp tác xã còn yếu, hiệu quả hoạt động chưa cao, mô hình tổ chức lỏng lẻo, chưa phù hợp, trình độ cán bộ quản lý hợp tác xã còn hạn chế mà một trong những nguyên nhân là chuyển đổi số còn chậm và thiếu chiến lược, hành động cụ thể.
Chính vì vậy, kinh tế hợp tác, hợp tác xã phải chủ động thay đổi cơ bản phương thức sản xuất, kinh doanh, chuyển đổi số để thích nghi với tình hình phát triển mới là yêu cầu cấp thiết, không thể đảo ngược.
Người đứng đầu Chính phủ nhấn mạnh, Diễn đàn này được tổ chức để đánh giá những kết quả đạt được trong chuyển đổi số quốc gia nói chung và chuyển đổi số trong khu vực kinh tế tập thể, hợp tác xã nói riêng; đồng thời thẳng thắn nhìn nhận những tồn tại, hạn chế, khó khăn, thách thức và những vấn đề đang đặt ra hiện nay để có các giải pháp phù hợp để thúc đẩy chuyển đổi số trong thời gian tới, tạo động lực cho kinh tế tập thể, hợp tác xã phát triển nhanh và bền vững, gắn với việc cụ thể hóa Nghị quyết số 20 của Trung ương.
PV/ Theo Dangcongsan.vn

Triển khai tốt công tác phối hợp hoạt động tư vấn, hỗ trợ KHCN và bảo vệ môi trường cho khu vực KTTT, HTX

Ngày 19/8, Chi bộ Viện Khoa học, Công nghệ & Môi trường, Liên minh Hợp tác xã Việt Nam tổ chức Đại hội chi bộ nhiệm kỳ 2022-2025. Tới dự có đồng chí Trịnh Xuân Ngọc, Phó Bí thư Đảng ủy, Trưởng ban Tổ chức cán bộ Liên minh Hợp tác xã Việt Nam và toàn thể Chi bộ Viện.

Theo Báo cáo trước Đại hội, về công tác giáo dục chính trị, tư tưởng cho đảng viên, Chi bộ Viện đã lãnh đạo thực hiện tốt công tác quản lý đảng viên; đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ cho cán bộ, đảng viên; thường xuyên duy trì liên hệ với chi ủy và gương mẫu thực hiện các nghĩa vụ của công dân nơi cư trú. Thực hiện việc giám sát đảng viên chấp hành Điều lệ Đảng, Nghị quyết, quy định của cấp ủy cấp trên và nhiệm vụ được chi bộ phân công.

Bên cạnh đó, Chi bộ thường xuyên tổ chức, quán triệt các nghị quyết của Đảng ủy cấp trên cho toàn thể đảng viên trong chi bộ. Thông qua các cuộc sinh hoạt định kỳ, Chi bộ đã phân tích, làm rõ những khuyết điểm, yếu kém của mình, qua đó đã đề ra được phương hướng và các giải pháp cụ thể, phù hợp để sửa chữa, khắc phục khuyết điểm; quán triệt Nghị quyết của Đảng là nhiệm vụ bắt buộc đối với từng cán bộ, đảng viên, tăng cường tính tự học tập, nghiên cứu, nâng cao nhận thức cho các đảng viên trong chi bộ trong việc chấp hành nghiêm túc chế độ học tập theo Nghị quyết của Đảng; Thường xuyên đưa nội dung các Nghị quyết vào các buổi sinh hoạt chi bộ; kịp thời biểu dương những cán bộ, đảng viên có tinh thần học tập, thực hiện nghị quyết nghiêm túc. Nhắc nhở, phê bình các cán bộ, đảng viên thiếu ý thức trong học tập và thực hiện nghị quyết.

“Trong nhiệm kỳ 2019-2021 toàn thể cán bộ, đảng viên đều an tâm công tác, tin tưởng vào đường lối lãnh đạo của Đảng, chấp hành đầy đủ chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước. Không có cán bộ, đảng viên vi phạm Pháp luật và 100 % các đồng chí đảng viên đã bám sát nhiệm vụ chính trị của cơ quan, tổ chức tốt các hoạt động triển khai trên nhiều lĩnh vực khác nhau, đoàn kết xây dựng, phát triển Viện vững mạnh đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của Liên minh HTX Việt Nam và của khu vực kinh tế hợp tác, HTX”- TS Lê Tuấn An, Bí thư Chi bộ nhiệm kỳ 2019-2021, Viện trưởng Viện KHCN&MT cho biết.

Trên cơ sở đánh giá tình hình về chính trị, xã hội trong nhiệm kỳ vừa qua, Chi bộ dự báo trong nhiệm kỳ tới sẽ còn gặp nhiều khó khăn, thách thức. Tuy nhiên với chức năng là đơn vị tham mưu xây dựng các chương trình, kế hoạch KHCN&BVMT của Ngành, Chi bộ sẽ tiếp tục tập trung chỉ đạo Viện KHCN&MT đẩy mạnh ứng dụng Khoa học Công nghệ, hỗ trợ và chuyển giao KHCN cho khu vực HTX.

Chi bộ chỉ đạo Lãnh đạo Viện tổ chức quán triệt cho cán bộ, nhân viên nắm vững quan điểm chủ trương của Đảng, nhận thức đúng đắn về chính trị, tư tưởng, trung thành với sự lãnh đạo của Đảng, gương mẫu thực hiện chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và vận động gia đình và quần chúng tham gia thực hiện. Lãnh đạo đảng viên, cán bộ, viên chức nêu cao tinh thần trách nhiệm, phát huy tính chủ động, sáng tạo, cải tiến lề lối, phương pháp làm việc.

Về phương hướng, mục tiêu và giải pháp nhiệm kỳ 2022 – 2025, Đại hội thống nhất: (1) Học tập, quán triệt đầy đủ nội dung Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XIII của Đảng và Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ IX của Đảng bộ Liên minh HTX Việt Nam; (2) Lãnh đạo, chỉ đạo phát huy tinh thần đoàn kết hoàn thành tốt các nhiệm vụ Chính trị được Liên minh HTX Việt Nam giao. Nâng cao hiệu quả các hoạt động dịch vụ KHCN đáp ứng nhu cầu phát triển của khu vực kinh tế hợp tác, hợp tác xã trong thời kì mới; (3) Phấn đấu 100% đảng viên hoàn thành nhiệm vụ, trong đó có trên 70% hoàn thành tốt nhiệm vụ, 30% hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, giữ vững danh hiệu “Chi bộ trong sạch vững mạnh”. 

Về công tác chuyên môn theo chức năng, nhiệm vụ được giao, trong nhiệm kỳ 2022 – 2025, Chi bộ Viện tập trung chỉ đạo thực hiện tốt những nhiệm vụ trong tâm sau: Chủ động phối hợp với Ban kế hoạch Hỗ trợ trong công tác tham mưu thường trực Liên minh HTX Việt Nam xây dựng kế hoạch hoạt động KHCN&MT và tham gia các Chương trình mục tiêu Quốc gia hàng năm, trung hạn và dài hạn. Tham mưu thường trực xây dựng các Chương trình phối hợp với các Bộ KH và CN, Bộ Nông nghiệp và PTNT; Chủ động phối hợp với Liên minh HTX các Tỉnh, Thành phố triển khai tốt công tác phối hợp hoạt động tư vấn, hỗ trợ KHCN và BVMT cho khu vực kinh tế hợp tác, hợp tác xã; Chỉ đạo tập trung và tranh thủ, huy động các nguồn lực hợp pháp nâng cao năng lực tổ chức hoạt động của Viện để phát triển các sản phẩm dịch vụ, mở rộng phạm vi cung ứng phục vụ nhu cầu của khu vực kinh tế hợp tác, hợp tác xã; Chỉ đạo đẩy mạnh ứng dụng và chuyển giao các kết quả đề tài, nhiệm vụ khoa học công nghệ vào hoạt động sản xuất kinh doanh cho khu vực kinh tế hợp tác, hợp tác xã; Chủ động chỉ đạo tăng cường xây dựng và thiết lập quan hệ công tác với các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước nhằm huy động nguồn lực hỗ trợ thực hiện nhiệm vụ Chính trị; Tăng cường sự lãnh đạo đối với các tổ chức Đoàn thể quần chúng, thúc đẩy vai trò của các tổ chức này trong các hoạt động xã hội và hoạt động chuyên môn của Viện.

Đại hội nhiệm kỳ 2022-2025 đã bầu đồng chí Lê Tuấn An, Viện trưởng Viện KHCN&MT tái cử giữ chức Bí thư Chi bộ Viện, đồng chí Nguyễn Tiến Dũng, Giám đốc Trung tâm Môi trường và Kiểm nghiệm chất lượng giữ chức Phó bí thư Chi bộ Viện.

Vân Khánh

Giới thiệu

 

 

        Viện Khoa học Công nghệ và Môi trường  (tên viết tắt là INOSTE – Institute of Technological Science and Environment) được thành lập theo Quyết định số 215/QĐ-LMHTXVN ngày 01/6/2022 của Chủ tịch Liên minh HTX Việt Nam (trên cở sở là Trung tâm Khoa học Công nghệ và Môi trường  – COSTE thành lập năm 2004) và hoạt động theo Giấy chứng nhận số A231 ngày 04/7/2022 của Bộ Khoa học và Công nghệ.

       Qua gần 30 năm kinh nghiệm hoạt động trong lĩnh vực khoa học công nghệ và môi trường, Viện Khoa học Công nghệ và Môi trường  đã không ngừng nâng cao năng lực, thực hiện nhiều công trình nghiên cứu ứng dụng, các nhiệm vụ, dự án khoa học kỹ thuật, sản xuất thử nghiệm cấp Nhà nước, Bộ, Ngành và được nhận nhiều bằng khen, giấy khen. Các dịch vụ về tư vấn ứng dụng chuyển giao công nghệ, sở hữu trí tuệ, tiêu chuẩn chất lượng và bảo vệ môi trường được các khách hàng tin tưởng và lựa chọn sử dụng lâu dài.

       Trên tinh thần học hỏi không ngừng, Viện Khoa học Công nghệ và Môi trường  luôn mở rộng đổi mới và nâng cao chất lượng dịch vụ để đáp ứng tốt nhất các nhu cầu của quý khách hàng trên phạm vi toàn quốc. Trung tâm cam kết tiếp tục mang đến các dịch vụ tư vấn tin cậy và đồng hành cùng sự phát triển của khách hàng.

       1. Chức năng:

       a) Tham mưu xây dựng và tổ chức thực hiện các chương trình, kế hoạch, đề án, đề tài, dự án, nhiệm vụ về khoa học công nghệ, bảo vệ môi trường và đổi mới sáng tạo; công nghệ thông tin, dịch vụ điện tử, thương mại điện tử; đào tạo, tập huấn, hội chợ, triển lãm kết nối cung cầu về khoa học, công nghệ và bảo vệ môi trường;

       b) Triển khai các hoạt động đào tạo, tư vấn, xúc tiến dịch vụ trong lĩnh vực khoa học, công nghệ, môi trường.

       2. Nhiệm vụ:

       a) Thực hiện các chương trình, kế hoạch, đề án, đề tài, dự án, nhiệm vụ thuộc lĩnh vực khoa học, công nghệ, môi trường và đổi mới sáng tạo do Liên minh HTX Việt Nam giao;

       b) Tổ chức và triển khai các hoạt động tư vấn, dịch vụ theo quy định của pháp luật về: Nghiên cứu và phát triển (R&D); chuyển giao, kết nối cung cầu khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo; quan trắc, phân tích, đánh giá tác động môi trường, xử lý ô nhiễm môi trường; quy hoạch môi trường nông nghiệp, tài nguyên đất, nước; chứng nhận thực hành nông nghiệp tốt (GAP); chứng nhận thực hành sản xuất tốt (GMP); chứng nhận hợp chuẩn, hợp quy; chứng nhận hệ thống quản lý chất lượng, hệ thống quản lý môi trường; chứng nhận, kiểm nghiệm, thử nghiệm, kiểm định sản phẩm, an toàn vệ sinh thực phẩm, an toàn lao động, môi trường lao động theo quy trình, quy chuẩn, tiêu chuẩn trong nước và quốc tế;

      c) Tổ chức và triển khai các hoạt động tư vấn, dịch vụ theo quy định của pháp luật về: Công nghệ thông tin, chuyển đổi số, dịch vụ điện tử; tuyên truyền, truyền thông, phổ biến thông tin, thương mại điện tử; hội nghị, hội thảo, tham quan, học tập, hội chợ, triển lãm kết nối cung cầu về khoa học công nghệ và bảo vệ môi trường;

      d) Tổ chức và triển khai các hoạt động tư vấn, dịch vụ theo quy định của pháp luật về: sở hữu trí tuệ; xây dựng thương hiệu, nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý, truy xuất nguồn gốc; sản xuất thử nghiệm; xây dựng mô hình sản xuất, kinh doanh ứng dụng khoa học công nghệ mới, các mô hình sản xuất, kinh doanh theo chuỗi giá trị sản phẩm;

     đ) Tổ chức và thực hiện các hoạt động tư vấn, dịch vụ theo quy định của pháp luật và của Liên minh HTX Việt Nam về: hợp tác, liên doanh, liên kết đầu tư, khai thác cơ sở vật chất, sản xuất và thương mại các sản phẩm khoa học công nghệ; tìm kiếm đối tác hợp tác, liên kết đầu tư, thương mại cho khu vực kinh tế hợp tác, HTX;

    e) Tổ chức và thực hiện các hoạt động tư vấn, dịch vụ theo quy định của pháp luật về: đào tạo và hợp tác, liên kết đào tạo các trình độ đại học, sau đại học, tập huấn, dậy nghề về khoa học, công nghệ, môi trường và đổi mới sáng tạo cho khu vực kinh tế tập thể, hợp tác xã;

    g) Tổ chức và thực hiện các hoạt động tư vấn, dịch vụ theo quy định của pháp luật về: khuyến khích, hỗ trợ đổi mới sáng tạo, đầu tư ươm tạo các doanh nghiệp, hợp tác xã khởi nghiệp và đầu tư ứng dụng khoa học, công nghệ và bảo vệ môi trường;

    h) Tổ chức và thực hiện các hoạt động liên kết, hợp tác với các tổ chức, cá nhân trong nước và quốc tế để xây dựng, thực hiện các chương trình, kế hoạch, đề án, đề tài, dự án, nhiệm vụ và các hoạt động tư vấn, dịch vụ nêu trên theo quy định của pháp luật, quy định của Liên minh HTX Việt Nam;

     i) Các nhiệm vụ khác do Liên minh Hợp tác xã Việt Nam giao.

    3. Cơ cấu tổ chức

     – Ban Lãnh đạo:

                                + Viện Trưởng: TS.Lê Tuấn An

                                + Phó Viện Trưởng: TS.Nguyễn Thị Hòa

      – Các phòng và đơn vị trực thuộc:

                                + Văn phòng Hành chính – Tổng hợp

                                + Phòng Khoa học và Quản lý chất lượng

                                + Phòng Đào tạo và Hợp tác phát triển

                                + Trung tâm Môi trường và Kiểm nghiệm chất lượng;

                                + Trung tâm Khoa học Công nghệ và Kinh tế số;

                                + Trung tâm Khoa học Công nghệ và Môi trường  miền Nam;

                                + Trung tâm Khoa học Công nghệ và Môi trường  miền Trung;

      Các phòng/Trung tâm

  • Văn phòng Hành chính – Tổng hợp

Địa chỉ: P403, Tầng 4, Tòa nhà Nedcen, ngõ 149 Giảng Võ, quận Đống Đa, Hà Nội

Email: coste@vca.org.vn

Điện thoại: 0243.8234.456

Chánh Văn phòng: Đào Thị Ngân

Điện thoại: 098.696.7596
Email:

  • Phòng Khoa học và Quản lý chất lượng

Địa chỉ: P405, Tầng 4, Tòa nhà Nedcen, ngõ 149 Giảng Võ, quận Đống Đa, Hà Nội

Trưởng phòng: Vũ Thị Khắc

Điện thoại: 036.385.4402
Email:

  • Phòng Đào tạo và Hợp tác phát triển

Địa chỉ: P405, Tầng 4, Tòa nhà Nedcen, ngõ 149 Giảng Võ, quận Đống Đa, Hà Nội

Trưởng phòng: Trịnh Anh Tuấn

Điện thoại: 0919.200.290
Email:

  • Trung tâm Môi trường và Kiểm nghiệm chất lượng

Địa chỉ: Tầng 3, Tòa nhà Nedcen, ngõ 149 Giảng Võ, quận Đống Đa, Hà Nội

Giám đốc: Nguyễn Tiến Dũng

Điện thoại: 091.4953.335
Email:

  • Trung tâm Khoa học Công nghệ và Kinh tế số

Địa chỉ: Tầng 4, Tòa nhà Nedcen, ngõ 149 Giảng Võ, quận Đống Đa, Hà Nội

Email: vietpro@vca.org.vn

Giám đốc: Trịnh Anh Tuấn

Điện thoại: 0931.388.288
Email: txtuan@gmail.com

  • Trung tâm Khoa học Công nghệ và Môi trường miền Trung

Địa chỉ: Lô 25B đường Phan Bội Châu, TP Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam

Điện thoại liên hệ: 0235.3813502 / 0235.3813537

Email: costem@vca.org.vn / costemmientrung@gmail.com

Giám đốc: Nguyễn Viết Gô

Điện thoại: 0988.327.592
Email:

  • Trung tâm Khoa học công nghệ và môi trường miền Nam

Địa chỉ: 25 Hàn Thuyên, phường Bến Nghé, Q1, TP Hồ Chí Minh

Điện thoại liên hệ: 02838227756

Email: socencoop@vca.org.vn

Giám đốc: Nguyễn Hoài Nam

Điện thoại: 0903.694.218
Email:

 

 

Thu hút công nghệ cao chuyển đổi nền kinh tế xanh ở Việt Nam

  • Bộ trưởng Huỳnh Thành Đạt cho rằng, để xanh hóa nền kinh tế, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo được xác định là giải pháp trọng tâm, trong đó chú trọng công nghệ cao.

Chiều 17/5 (sáng 18/5 giờ Hà Nội), Bộ Khoa học và Công nghệ phối hợp với Đại học California Berkeley tổ chức tọa đàm “Xây dựng chính sách thu hút công nghệ cao để chuyển đổi sang nền kinh tế xanh và kỹ thuật số ở Việt Nam”. Sự kiện nằm trong khuôn khổ chuyến công tác của Thủ tướng tại Mỹ.

Phát biểu tại sự kiện, Bộ trưởng Khoa học và Công nghệ Huỳnh Thành Đạt cho biết, chính sách khí hậu và bảo vệ môi trường được Chính phủ Việt Nam rất quan tâm, coi là nhiệm vụ trọng tâm để góp phần phát triển nhanh và bền vững. Tại Hội nghị của Liên Hợp Quốc về Biến đổi Khí hậu (COP26), Việt Nam đã cam kết đạt mức phát thải carbon trung tính vào năm 2050. Để đạt mục tiêu này, Việt Nam đang từng bước chuyển dịch cơ cấu năng lượng theo hướng tăng tỷ trọng năng lượng tái tạo, giảm nguyên liệu hóa thạch.

Ông cho biết, Việt Nam xác định tỷ lệ nguồn năng lượng tái tạo trong tổng cung năng lượng sơ cấp đạt 15-20% năm 2030 và 25-30% năm 2045, tương ứng tỷ lệ điện năng của năng lượng tái tạo trong tổng điện năng sản xuất toàn quốc là khoảng 30% năm 2030 và 40% năm 2045.

Bên cạnh các chính sách về khí hậu và bảo vệ môi trường, Chính phủ Việt Nam cũng đang xây dựng và triển khai các chính sách nhằm phát triển kinh tế số, xã hội số. Trong đó xác định, tỷ trọng kinh tế số đạt 20% GDP năm 2025 và 30% GDP năm 2030.

“Có thể nói, chủ trương xanh hóa nền kinh tế Việt Nam luôn cần song hành cùng tiến trình chuyển đổi số quốc gia, đặc biệt trong lĩnh vực năng lượng, môi trường với việc ứng dụng công nghệ tiên tiến từ AI, Blockchain, IoT… trong việc xây dựng một hệ sinh thái công nghệ thông minh, đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế”, lãnh đạo Bộ Khoa học và Công nghệ nói.

Bộ trưởng Khoa học và Công nghệ Huỳnh Thành Đạt phát biểu tại hội thảo. Ảnh: Hoàng Thùy

Bộ trưởng Huỳnh Thành Đạt phát biểu tại hội thảo. Ảnh: Hoàng Thùy

Theo Bộ trưởng, để đạt được các mục tiêu trên, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo được xác định là giải pháp trọng tâm. Các chính sách, cơ chế, giải pháp của Việt Nam thời gian qua được tập trung vào cải thiện môi trường kinh doanh, thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo, phát triển các ngành, lĩnh vực, các doanh nghiệp trên nền tảng ứng dụng mạnh mẽ các thành tựu của khoa học công nghệ, nhất là cuộc Cách mạng công nghệ 4.0.

Hiện Việt Nam đã ban hành 8 luật chuyên ngành về khoa học và công nghệ. Hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo (startup ecosystem) đã hình thành và phát triển nhanh, đa dạng, gồm 79 cơ sở ươm tạo công nghệ và doanh nghiệp, 40 tổ chức tăng tốc khởi nghiệp, 138 trường đại học có không gian sáng tạo dành cho sinh viên khởi nghiệp; 291 khu công nghiệp, 04 khu công nghệ cao quốc gia…

“Trong một thế giới toàn cầu hóa và hội nhập, để phát triển một nền kinh tế xanh, Việt Nam rất cần tiếp cận với các kiến thức, kinh nghiệm, công nghệ tiên tiến, hiện đại của nước ngoài, trong đó có Mỹ”, Bộ trưởng Khoa học và Công nghệ nói.

Cần chính sách lưu trữ năng lượng

Tham luận với chủ đề công nghệ và chiến lược tăng trưởng năng lượng xanh ở Việt Nam, ông Chris Payton (Vietnam Gas/ Energy Science Group) nói, chỉ 5 năm trước, vấn đề năng lượng tái tạo rất đơn giản chỉ xoay quanh việc thay thế nhiên liệu hóa thạch bằng năng lượng gió và mặt trời. Nhưng lúc này là vấn đề về cơ sở hạ tầng, trong đó có truyền tải điện năng. Điều này phải được quản lý qua chính sách.

Theo ông, lưu trữ năng lượng là điều mà Việt Nam có thể làm rất nhanh về mặt chính sách. Ví dụ ở bang California, năm 2021 có hơn 220 dự án điện mặt trời được cấp phép, trong đó 95% là dự án điện mặt trời đi kèm lưu trữ. Trong khi 5 năm trước con số này rất thấp.

Có rất nhiều loại công nghệ lưu trữ năng lượng như tích lũy thủy năng, pin, khí nén, lưu trữ dưới dạng nhiệt… Mỗi loại đều có ứng dụng trong kinh tế và mức độ thương mại hóa khác nhau. Hai loại phổ biến nhất là tích lũy thủy năng và pin. Hai loại này khác nhau nhưng bổ sung cho nhau. Lưu trữ điện bằng pin là lĩnh vực mà chính sách chủ động có thể nhanh chóng thay đổi môi trường và tầm nhìn năng lượng của Việt Nam.

“Hệ thống lưu trữ bằng pin có thể được lắp đặt vào một mạng lưới có sẵn mà không tốn nhiều diện tích. Nó cũng có thể được triển khai ở nhiều vị trí trong mạng lưới như điểm phát điện, ở nơi người dùng cuối, trước hoặc sau đồng hồ…”, ông nói.

Ông Chris Payton tham luận với chủ đề công nghệ và chiến lược tăng trưởng năng lượng xanh ở Việt Nam. Ảnh: Hoàng Thùy

Ông Chris Payton tham luận với chủ đề công nghệ và chiến lược tăng trưởng năng lượng xanh ở Việt Nam. Ảnh: Hoàng Thùy

Ông cho biết, có thể triển khai hệ thống lưu trữ điện ở nhiều nơi trong khắp mạng lưới nhưng nếu kiểm soát tập trung sẽ tốt hơn. Theo đó, một hệ thống quản lý điện có quy mô toàn quốc là rất quan trọng. “Nếu lập ra một hệ thống này, có thể lập ra hệ thống quản lý phát thải carbon, giúp quản lý lượng carbon bị phát thải, khuyến khích các khu công nghiệp làm tốt và ngăn ngừa các khu chưa tốt. Hệ thống cũng có thể thu thập dữ liệu thống kê quốc gia”, ông nói.

Theo ông Chris Payton, việc lưu trữ năng lượng sẽ tiếp sức cho năng lượng mặt trời và khuyến khích các dự án mới trên quy mô lớn trong tương lai. Nhưng để đảm bảo tính ổn định của lưới điện, không nên phó mặc cho việc khuyến khích tư nhân. “Lưới điện phải được cấp ngân sách trung ương và quản lý trung ương vì nó mang tính chất chiến lược”, ông nhấn mạnh.

Tại tọa đàm còn có sự tham dự của đại diện Ban Quản lý Khu công nghệ cao Hòa Lạc, Văn phòng Khoa học và Công nghệ Việt Nam ở San Francisco; các giáo sư, học giả, nhà nghiên cứu đến từ Đại học California Berkeley, Đại học Texas, Đại học Stanford; các doanh nghiệp của Việt Nam và Mỹ như Việt Nam Gas Group; Energy Science Group; TerraScale Inc; Mancef…

Cuối chương trình, Ban Quản lý Khu Công nghệ cao Hòa Lạc ký biên bản ghi nhớ ghi nhận ý định của Công ty TerraScale Inc (doanh nghiệp Mỹ) trong việc nghiên cứu đầu tư các dự án về năng lượng và dữ liệu xanh và bền vững tại Khu Công nghệ cao Hòa Lạc.

Đây là dự án mạng lưới các trung tâm dữ liệu carbon thấp với khả năng bảo mật cao, mạng lưới xử lý dữ liệu thiết yếu; dự án Hệ thống Pin (battery) lưu trữ năng lượng quy mô lưới điện, dự án về Phần mềm kiểm đếm carbon, dự án mạng lưới hệ thống truyền thông an toàn, bao gồm truyền thông vệ tinh, hạ tầng phục vụ phát triển lĩnh vực AI và IoT cho các ứng dụng đa dạng và nhân đạo như y tế, nông nghiệp và phát triển thành phố thông minh.

Lãnh đạo Ban Quản lý Khu Công nghệ cao Hòa Lạc, ông Lưu Hoàng Long (bên phải) và lãnh đạo Công ty TerraScale Inc, ông Danny Hayes ký kết Bản ghi nhớ hợp tác dưới sự chứng kiến của Bộ trưởng Khoa học và Công nghệ Huỳnh Thành Đạt (đứng, thứ hai từ phải qua). Ảnh: Hoàng Thùy

Lãnh đạo Ban Quản lý Khu Công nghệ cao Hòa Lạc, ông Lưu Hoàng Long (bên phải) và lãnh đạo Công ty TerraScale Inc, ông Danny Hayes ký kết Bản ghi nhớ hợp tác dưới sự chứng kiến của Bộ trưởng Khoa học và Công nghệ Huỳnh Thành Đạt (đứng thứ hai từ phải qua). Ảnh: Hoàng Thùy

Thủ tướng Phạm Minh Chính đến Mỹ từ 11/5, bắt đầu tham dự chuỗi sự kiện trong khuôn khổ Hội nghị Cấp cao đặc biệt ASEAN – Mỹ diễn ra ngày 12-13/5, đồng thời thăm và làm việc tại Mỹ, Liên Hợp Quốc, dự kiến kéo dài đến 17/5. Bộ trưởng Khoa học và Công nghệ Huỳnh Thành Đạt là một trong các thành viên chính thức của Đoàn đại biểu Việt Nam.

Hội nghị trực tuyến Ban Thường vụ Liên minh HTX Việt Nam lần thứ nhất, khóa VI, nhiệm kỳ 2020 – 2025

Sáng ngày 08/3, đồng chí Nguyễn Ngọc Bảo, Bí thư Đảng đoàn, Chủ tịch Liên minh HTX Việt Nam đã chủ trì Hội nghị trực tuyến Ban Thường vụ Liên minh HTX Việt Nam lần thứ nhất, khoá VI, nhiệm kỳ 2020 – 2025.

Đồng chí Nguyễn Ngọc Bảo, Bí thư Đảng đoàn, Chủ tịch Liên minh HTX Việt Nam phát biểu tại hội nghị

Tham gia hội nghị có các đồng chí Phó Chủ tịch Liên minh HTX Việt Nam; các đồng chí là ủy viên Ban Thường vụ, các Ban, đơn vị trực thuộc Liên minh HTX Việt Nam báo cáo các nội dung chuyên đề.

Ban Thường vụ Liên minh HTX Việt Nam, khoá VI, họp lần thứ nhất, tập trung vào các nội dung chính: Báo cáo tình hình phát triển KTTT, HTX và hoạt động của hệ thống Liên minh HTX Việt Nam năm 2020, triển khai nhiệm vụ năm 2021; Báo cáo công tác tổ chức Đại hội Liên minh HTX Việt Nam và cấp tỉnh nhiệm kỳ 2020-2025; Báo cáo tình hình thực hiện chế độ thông tin, báo cáo của hệ thống năm 2020; nhiệm vụ năm 2021; Báo cáo về việc sửa đổi, bổ sung Quyết định số 1120/QĐ-LMHTXVN ngày 26/10/2018; Báo cáo về xây dựng mô hình HTX sản xuất kinh doanh gắn với chuỗi giá trị giai đoạn 2018-2020; định hướng, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp giai đoạn 2021-2025; Quy chế lựa chọn xây dựng, nhân rộng mô hình HTX ứng dụng công nghệ cao liên kết theo chuỗi giá trị, hiệu quả bền vững; Quy chế hỗ trợ HTX phát triển sản xuất; Chương trình công tác toàn khóa của Ban Chấp hành Liên minh HTX Việt Nam khoá VI, nhiệm kỳ 2020-2025; Phân công nhiệm vụ Ban Chấp hành và Ban Thường vụ Liên minh HTX Việt Nam khoá VI, nhiệm kỳ 2020-2025;…

Quang cảnh hội nghị trực tuyến Ban Thường vụ Liên minh HTX Việt Nam

Theo báo cáo tình hình phát triển KTTT, hợp tác xã của hệ thống Liên minh HTX Việt Nam năm 2020, số lượng hợp tác xã (HTX), liên hiệp HTX, tổ hợp tác (THT) tiếp tục tăng, thành lập mới 2.153 HTX, 17 liên hiệp HTX, 3.000 THT; đến cuối năm 2020, cả nước có 25.454 HTX, tăng 836 HTX; 102 liên hiệp HTX, 119.399 THT. Trong đó có 16.520 HTX nông nghiệp; 1.188 Quỹ tín dụng nhân dân.

Theo đó, khu vực KTTT, HTX thu hút hơn 8,1 triệu thành viên, chiếm 33% tổng số hộ cá thể ở địa bàn nông thôn; 96% HTX được chuyển đổi, tổ chức lại hoạt động; quy mô, chất lượng và hiệu quả hoạt động được nâng lên; giải thể 811 HTX, 06 liên hiệp HTX. Tỷ lệ HTX hoạt động hiệu quả đạt 56%; tổng doanh thu đạt hơn 30.000 tỷ đồng, lợi nhuận sau thuế đạt 2.900 tỷ đồng, thu nhập bình quân của người lao động 3,5 triệu đồng/người/tháng; Cả nước có 1.718 HTX ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất, 3.913 HTX sản xuất gắn với chuỗi giá trị…

Quang cảnh hội nghị trực tuyến Ban Thường vụ Liên minh HTX Việt Nam

Tại hội nghị, đồng chí Chủ tịch Nguyễn Ngọc Bảo nhấn mạnh năm 2020 là năm diễn ra với nhiều sự kiện quan trọng của hệ thống Liên minh HTX Việt Nam, bên cạnh việc chủ động nghiên cứu, tham mưu và triển khai thực hiện kịp thời chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước, cấp ủy và chính quyền địa phương về phát triển KTTT, HTX và hoạt động của hệ thống Liên minh HTX Việt Nam. Liên minh HTX Việt Nam đã phối hợp với các bộ, ngành xây dựng các văn bản, cơ chế, chính sách liên quan đến phát triển KTTT, HTX…. Hệ thống Liên minh HTX Việt Nam triển khai nhiều họat động sáng tạo, đáp ứng yêu cầu phát triển của khu vực KTTT và thành viên; tiếp tục giữ vai trò nòng cốt trong phát triển KTTT, HTX; vị thế, uy tín của hệ thống Liên minh HTX Việt Nam ở trong nước và các tổ chức quốc tế nâng thêm một tầm cao mới.

Với tinh thần trách nhiệm cao, các đại biểu dự hội nghị đã tập trung thảo luận về các vấn đề về triển khai nhiệm vụ 2021; dự thảo Quy chế làm việc của Ban chấp hành, Ban Thường vụ, Thường trực Liên minh HTX Việt Nam khóa VI, nhiệm kỳ 2020 – 2025; Quy chế lựa chọn xây dựng, nhân rộng mô hình HTX ứng dụng công nghệ cao liên kết theo chuỗi giá trị, hiệu quả bền vững; Quy chế hỗ trợ HTX phát triển sản xuất; kế hoạch tổng kết 20 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 Khóa IX và 10 năm thực hiện Luật Hợp tác xã năm 2012…

Phát biểu tại hội nghị, đồng chí Nguyễn Ngọc Bảo, Bí thư Đảng đoàn, Chủ tịch Liên minh HTX Việt Nam cho biết dựa trên những kết quả đã đạt được, KTTT, HTX trong năm 2021 tiếp tục phát triển cả về số lượng và chất lượng, gắn với quá trình đổi mới mô hình tăng trưởng, tái cơ cấu nền kinh tế, nhất là trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn; góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế, tạo việc làm, tăng thu nhập, xóa đói, giảm nghèo cho các thành viên, xây dựng nông thôn mới, bảo đảm an sinh, an ninh, trật tự và an toàn xã hội.

Về một số nhiệm vụ công tác trọng tâm trong năm 2021, đồng chí Chủ tịch Liên minh HTX Việt Nam đề nghị các các ban tham mưu, các đơn vị sự nghiệp; các đồng chí Ủy viên Ban Thường vụ Liên minh HTX Việt Nam trên cương vị, trách nhiệm và nhiệm vụ mới được phân công, cần tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện tốt các nội dung trọng tâm đã đề ra.

Một số hình ảnh tại hội nghị trực tuyến Ban Thường vụ Liên minh HTX Việt Nam lần thứ nhất, khóa VI:

 Trung tâm Thông tin – Tuyên truyền